ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi
  1. Trang chủ
  2. Blog bệnh học
  3. Thông tin y học
  4. Mật được sản xuất nh...

Mật được sản xuất như thế nào, vai trò và thành phần của mật


Mật được sản xuất tại gan và được dự trữ tại túi mật.

Thành phần và tác dụng của muối mật : mật là một chất lỏng trong suốt có màu thay đổi tùy theo mức đô cô đặc và thành phần của sắc tố chứa đựng, từ màu xanh tới màu vàng. Thành phần chủ yếu của mật là muối mật, chiếm khoảng 50% các chất hòa tan của mật. Ngoài ra trong mật còn có các sắc tố mật (bilirubin), cholesterol, lecithin và các chất điện giải như Na, K, Ca,Cl, HCO3.

Muối mật:

Muối mật là thành phần duy nhất của mật có tác dụng tiêu hóa thức ăn, nó đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu hóa và hấp thu mỡ. Các tế bào gan bài tiết khoảng 0,5g muối mật mỗi ngày. Tiền chất của muối mật là cholesterol, nó được chuyển thành acid cholic hoặc acid chonodesoxycholic. Các acid này gắn với glycin và với taurin để tạo ra acid glycocholic và acid taurochonic. Muối của các acid này được bài tiết vào mật.

Muối mật có tác dụng nhũ hóa mỡ, ở dạng cấu trúc không gian của muối mật, tất cả các nhóm phân cực ở về một phía, nhóm không cực về một phía, tác dụng như một chất diện hoạt nhũ hóa làm giảm sức căng bề mặt giữa pha dầu (mỡ) và pha nước, đồng thời dưới sự co bóp của ruột thì các hạt mỡ vỡ thành các hạt có kích thước rất nhỏ để các men lipase có thể tiếp xúc và tác dụng trên bề mặt các hạt mỡ đó.

Muối mật giúp cho sự hấp thu các sản phẩm tiêu hóa của lipid là aicd béo, monoglycerid, cholesterol và các lipid ở ruột non bằng cách cùng với lipid tạo ra những phức hợp rất nhỏ , chúng có thể hòa tan trong nước nhờ nhóm thân nước của muối mật, sau đó được hấp thu nhờ tế bào biểu mô niêm mạc ruột.

Muối mật cũng cần thiết cho hấp thu những vitamin tan trong dầu như vitamin A,D,K,E.

Khi bài tiết mật giảm dẫn tới tiêu hóa lipid giảm, hàm lượng lipid trong phân tăng lên, đồng thời xuất hiện các triệu chứng thiếu vitamin đặc biệt vitamin K.

Sắc tố mật : nguồn gốc của sắc tố mật do tế bào liên võng và tế bào Kuffer của gan sản xuất ra từ hemoglobin trong quá trình tiêu hủy hồng cầu ở gan. Sắc tố mật không có tác dụng tiêu hóa thức ăn nhưng ở ruột một phần bilirubin liên hợp chịu tác động của hệ vi sinh vật sống trong ruột chuyển thành stercobilin có tác dụng nhuộm vàng cá chất, những dịch có chứa nó, vì vậy bình thường phân có màu vàng. Khi sắc tố mật không xuống được ruột (do tắc mật hay xơ gan,..) sắc tố mật bị ứ lại trong máu làm phân mất màu vàng.

Cholesterol : các tế bào gan sản xuất muối mật từ cholesterol , lượng cholesterol trong mật phụ thuộc vào lượng lipid ăn hàng ngày. Do đó, nếu ăn nhiều lipid trong một thời gian dài thì có thể bị sỏi mật. ngoài ra, khi các tế bào biểu mô túi mật bị viêm mạn tính, dẫn tới hấp thu quá nhiều nước, muối mât , lecithin, làm cho cholesterol bắt đầu bị kết của, dần dần sỏi mật được hình thành.

Quá trình bài tiết dịch mật qua hai giai đoạn :

Sự bài tiết mật :

Mật được sản xuất ra liên tục từ các tế bào gan, qua các ống dẫn mật rồi được đưa xuống dự trữ và cô đặc ở túi mật, rồi từ đó được bơm vào ruột trong các bữa ăn. Thể tích tối đa của tủi mật khoảng 20-60ml, trong khi đó lượng dịch  mật bài tiết ra trong 12h là 450ml, lượng mật này vẫn được dự trữ trong túi mật vì nước và các chất điện giải khác được niêm mạc túi mật hấp thu liên tục, do đó các thành phần khác của mật như muối mật, cholesterol, lecithin, bilirubin được cô đặc trong túi mật. khả năng cô đặc tối đa lên tới 12 đến 20 lần.

Lượng mật được gan tiết ra hàng ngày trung bình khoảng 1 lít. Tuy nhiên sự bài tiết mật ở gan phụ thuộc rất nhiều vào lượng muối mật trong tuần hoàn gan ruột, lượng muối mật càng lớn thì khả năng bài tiết mật của gan càng lớn.

Sự bài xuất mật :

Bài xuất mật từ túi mật vao tá tràng được điều hòa bằng cơ chế thần kinh và thể dịch gây co bóp túi mật và giãn cơ vòng oddi.

Cơ chế thần kinh : khi bị kích thích hệ thần kinh ruột sẽ làm các sợi thần kinh này bài tiết cetylcholin, có tác dụng làm cho túi mật co lạ bơm mật đã được cô đặc xuống ruột.

Cơ chế thể dịch: khi thức ăn vào tá tràng, sự có mặt của mỡ trong thức ăn sẽ kích thích niêm mạc tá tràng và phần trên hỗng tràng bài tiết chất làm co bóp túi mật gọi là hormon cholecyskinin, chất này làm co bóp túi mât và giãn cơ vòng oddi, do đó mật đc bài xuất vào tá tràng. Khi thức ăn ít mỡ, sự bài xuất này sẽ giảm.

Tài liệu tham khảo :

1. Giải phẫu-sinh lý người, Bộ Y Tế, Nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam

2. Bài giảng giải phẫu, NXB Y học,2004

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa : , , , ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

Canada cảnh báo nguy cơ tăng tử vong do sử dụng XARELTO (rivaroxaban) Canada cảnh báo nguy cơ tăng tử vong do sử dụng XARELTO (rivaroxaban)

các nguy cơ huyết khối, xuất huyết, tăng tỷ lệ tử vong đã được báo cáo trong thử nghiệm lâm sàng pha iii ở những bệnh nhân đã thay van động mạch chủ

Chấn thương sọ não: chẩn đoán và điều trị Chấn thương sọ não: chẩn đoán và điều trị

ctsn là những thương tích hộp sọ và cấu trúc bên trong sọ. lâm sàng thường gặp các trường hợp sau: • vết thương rách lóc da đầu • tụ máu dưới da đầu • chấn động não • xuất huyết dưới nhện • nứt sọ, lún sọ, tụ khí nội sọ • vết thương sọ não • máu tụ ngoài màng cứng

Điều gì xảy ra khi uống cà phê quá nhiều Điều gì xảy ra khi uống cà phê quá nhiều

cà phê chứa cafein, là một chất kích thích thần kinh, nhấm nháp một ly cà phê vào mỗi buổi sáng sẽ giúp cơ thể thư giãn, thoải mái và tỉnh táo hơn,

Cây đinh hương: đặc điểm, phân bố và công dụng của cây Cây đinh hương: đặc điểm, phân bố và công dụng của cây

cây đinh hương hay còn được gọi là cống đinh hương, đinh tử, đinh tử hương. tên khoa học đinh hương có tên khoa học là syzygium aromaticum ( l.) merr.et perry thuộc họ sim myrtaceae. vị thuốc giống như chiếc đinh lại có mùi thơm nên được gọi là đinh hương.


Giỏ hàng: 0