ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

Sốt siêu vi: Nguyên nhân, chẩn đoán và phương pháp điều trị


Đại cương về sốt

Sốt là gì?

Định nghĩa về sốt là sự gia tăng nhiệt độ cơ thể hoặc nhiệt độ cơ thể cao. Sốt không được coi là có ý nghĩa về mặt y khoa cho đến khi nhiệt độ cơ thể cao hơn 38◦C. Sốt được coi là một trong những phòng thủ tự nhiên của cơ thể chống lại vi khuẩn và vi rút không thể sống ở nhiệt độ cao hơn. Vì lý do đó, sốt nhẹ thường không được điều trị, trừ khi kèm theo các triệu chứng hoặc dấu hiệu khó chịu như ho , đau họng , nghẹt xoang, mệt mỏi , đau khớp hoặc đau, ớn lạnh , buồn nôn ,…

Sốt 40◦C hoặc cao hơn có thể nguy hiểm và cần điều trị ngay lập tức tại nhà và chăm sóc y tế nhanh chóng, vì chúng có thể dẫn đến mê sảng và co giật, đặc biệt là ở trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và người già.

Sốt không nên nhầm lẫn với chứng tăng thân nhiệt, đó là một khiếm khuyết trong phản ứng của cơ thể với nhiệt mà cũng có thể làm tăng nhiệt độ cơ thể. Điều này thường do các nguồn bên ngoài gây ra, chẳng hạn như trong môi trường nóng. Đột quỵ do nhiệt và kiệt sức do nhiệt là các dạng tăng thân nhiệt. Các nguyên nhân khác của tăng thân nhiệt có thể bao gồm các tác dụng phụ của một số loại thuốc hoặc điều kiện y tế nhất định.

Sốt cũng không nên nhầm lẫn với những cơn nóng hoặc đổ mồ hôi ban đêm do thay đổi nội tiết tố trong thời kỳ mãn kinh (khoảng thời gian xung quanh thời kỳ mãn kinh ). Bốc hỏa và đổ mồ hôi ban đêm gây ra cảm giác nóng đột ngột và dữ dội, và có thể kèm theo đỏ bừng (đỏ da) và đổ mồ hôi nhưng không giống như sốt.

Nguyên  nhân gây sốt

Sốt là kết quả của một phản ứng miễn dịch của cơ thể với yếu tố ngoại lai xâm nhập. Những yếu tố này bao gồm vi-rút, vi khuẩn, nấm hoặc các chất độc khác.

Những yếu tố ngoại lai này được coi là chất gây sốt (gọi là pyrogens), kích hoạt phản ứng miễn dịch của cơ thể. Chất gây sốt báo hiệu vùng dưới đồi trong não để tăng nhiệt độ cơ thể thiết lập nhiệt điểm để giúp cơ thể chống lại nhiễm trùng.

Sốt là một triệu chứng phổ biến của hầu hết các bệnh nhiễm trùng ví dụ như cảm lạnh hay viêm dạ dày ruột, và do đó yếu tố nguy cơ gây sốt là tiếp xúc với các tác nhân gây nhiễm trùng. Các bệnh nhiễm trùng điển hình có thể gây sốt bao gồm viêm tai, họng, phổi, bàng quang và thận. Ở trẻ em, chủng ngừa (như tiêm vắc-xin ) hoặc mọc răng có thể gây sốt nhẹ  ngắn hạn. Rối loạn tự miễn dịch (bao gồm viêm khớp dạng thấp , lupus và bệnh viêm ruột), tác dụng phụ của thuốc, co giật , cục máu đông , rối loạn nội tiết tố, ung thư và sử dụng ma túy trái phép cũng có thể gây sốt.

Sốt tự nó không lây nhiễm; tuy nhiên, nếu sốt là do nhiễm vi-rút hoặc vi khuẩn, kí sinh trùng có thể lây nhiễm.

Các triệu chứng của sốt là gì?

Sốt có thể khiến một người cảm thấy rất khó chịu. Các dấu hiệu và triệu chứng sốt bao gồm:

- Nhiệt độ lớn hơn 38◦C ở người lớn hay trẻ em

- Run rẩy và ớn lạnh

- Đau nhức cơ và khớp hoặc đau nhức các vùng cơ thể khác

- Đau đầu

- Đổ mồ hôi nhiều

- Nhịp tim nhanh và / hoặc đánh trống ngực

- Da đỏ bừng hoặc da nóng

- Cảm thấy chóng mặt, choáng váng hoặc ngất xỉu

- Người mệt mỏi, yếu, ăn không ngon

Cũng cần lưu ý ở trẻ em là các triệu chứng có thể kèm theo nhiễm trùng, bao gồm đau họng, ho, đau tai, nôn mửa và tiêu chảy.

Với nhiệt độ rất cao (> 40◦C), co giật, ảo giác, hoặc nhầm lẫn có thể xảy ra.

Sốt siêu vi là gì?

Sốt do virus hay còn gọi là sốt siêu vi là một thuật ngữ cho một nhóm các bệnh nhiễm vi-rút có ảnh hưởng đến cơ thể và được đặc trưng bởi sốt cao, nhiệt mắt, đau đầu, đau nhức cơ thể và đôi khi buồn nôn và ói mửa.

Sốt do virus thường gặp ở trẻ em và người già vì khả năng miễn dịch thấp hơn. Bản thân bệnh sốt không phải là một căn bệnh, mà là triệu chứng của nguyên nhân cơ bản, đó là nhiễm virus. Nhiễm virus có thể xảy ra ở bất kỳ phần nào của cơ thể: ruột, phổi, đường dẫn khí ... Sốt sẽ xảy ra do nhiễm trùng. Sốt cao thường là dấu hiệu của hệ thống miễn dịch của cơ thể, chống lại các virus xâm nhập và tiêu diệt chúng.

Nhiều người có khuynh hướng tự dùng thuốc, đôi khi thậm chí bằng cách uống thuốc kháng sinh, khi họ bị sốt cao liên tục với ớn lạnh, đó là một sai lầm. Thuốc kháng sinh không thể diệt vi-rút mà chỉ giết vi khuẩn có hại. Nếu lạm dụng thuốc kháng sinh có thể ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày, tiêu diệt vi khuẩn đường ruột tốt, gây tăng tiết axit và ảnh hưởng đến gan, thận.

Nguyên nhân gây sốt siêu vi?

Sốt do virus được truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc với dịch cơ thể của người bị nhiễm bệnh. Khi người bị nhiễm bệnh ngáp, hắt hơi, ho, hoặc thậm chí nói chuyện, các chất lỏng nhỏ li ti được đẩy ra khỏi cơ thể họ, có thể xâm nhập vào hệ thống của người khác ở gần đó. Một khi vi-rút xâm nhập vào cơ thể, phải mất từ ​​16 giờ đến 48 giờ để chuyển sang một bệnh nhiễm trùng bùng phát. Bệnh nhân có thể đột nhiên bị sốt cao, ớn lạnh, đau đầu, đau cơ thể và suy nhược nhanh.

Một số chủng virut trầm trọng gây ra xuất huyết lan truyền do muỗi, bọ ve cắn, hoặc bằng cách tiếp xúc với máu hoặc tinh dịch của người bị nhiễm bệnh.

Chẩn đoán sốt siêu vi

Các triệu chứng của sốt do virus bao gồm:

- sốt (liên tục tăng và giảm)

- mệt mỏi, chóng mặt, yếu ớt, ớn lạnh

- đau đầu, cơ bắp, cơ thể và đau khớp

- viêm họng, đau amidan

- chảy nước mũi, nghẹt mũi khó thở

- cảm giác nóng rát trong mắt

- ho

- viêm da

- tiêu chảy, buồn nôn, ói mửa

Chẩn đoán

Vì các triệu chứng sốt do virus thường gặp ở nhiều bệnh, nên việc chẩn đoán dạng sốt cụ thể có thể khó khăn. Yêu cầu thực hiện xét nghiệm máu để xác nhận chẩn đoán và loại trừ khả năng của bất kỳ bệnh nào như sốt xuất huyết , sốt rét , chikungunya , thương hàn, …

Cách điều trị sốt siêu vi

Bệnh sốt virus có thể tự khỏi sau 1-2 tuần. Nhưng bệnh thường có biểu hiện sốt nên cần điều trị, nhất là ở trẻ em.

Điều đầu tiên cần lưu tâm khi bị sốt đó là uống nhiều nước, ở trẻ còn bú thì phải cho trẻ bú đầy đủ. Thường dùng là oresol (1 gói chứa 20gam glucose khan, 3,5 gam natriclorit; 2,9 gam natricitrat và 1,5 gam kaliclorit 1 gói pha trong 1 lít nước sôi để nguội, uống liên tục trong ngày, tùy theo mức độ mất nước có thể sử dụng 2 – 3 gói trong ngày. Có thể thay thế oresol bằng viên hydrit, mỗi lần uống 1 viên pha vào 200ml nước. Cần chú ý pha thuốc đúng tỷ lệ, nếu quá loãng sẽ không cung cấp đủ lượng chất điện giải cần thiết, nếu quá đặc sẽ dẫn đến tình trạng quá tải các chất điện giải.

Nên ở trong phòng ấm, mặc đồ đủ thoáng, không để gió lùa, không để nhiệt độ phòng quá thấp hơn so với nhiệt độ cơ thể và thường xuyên lau người bằng nước ấm (thường nhiệt độ của nước thấp hơn nhiệt độ của trẻ khoảng 3 – 4 độ C) chú ý không được dùng đá lạnh để chườm tại nhà. Có thể kết hợp dán các miếng cao dán hạ sốt.

Khi sốt > 38,5 độ C nên sử dụng thuốc hạ sốt, thường dùng là paracetamol với liều 10 – 20 mg/kg thể trọng, cách mỗi 4 – 6 tiếng dùng một lần, sẽ có tác dụng ngăn ngừa việc tăng thân nhiệt.

Vệ sinh sạch sẽ: Thời gian này sức đề kháng rất kém, cơ thể mệt mỏi nên rất dễ mắc thêm bệnh, vì vậy việc vệ sinh là vô cùng cần thiết, giúp người bệnh tránh được hiện tượng bội nhiễm do nhiễm các loại virus khác. Có thể tắm bằng nước ấm, lau khô người sau khi tắm và thay quần áo thật sạch sẽ.

Tuyệt đối không tự dùng kháng sinh hay tự đi truyền dịch, cũng như lạm dụng dụng cụ xông họng vì có thể dẫn đến hỏng niêm mạc mũi, họng. Đặc biệt không nên uống liên tục thuốc hạ sốt và không dùng nước đá hoặc nước quá lạnh, quá nóng để lau người. Mặc quần áo thoáng mát.

Nếu sốt nhiều ngày (trên 5 ngày), hoặc sốt cao trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không thấy hạ hoặc xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, buồn nôn thì cần nhanh chóng đưa người bệnh đến các phòng khám, bệnh viện gần nhất để có biện pháp điều trị đúng đắn, giúp bệnh nhanh chóng thuyên giảm, tránh những biến chứng có thể xảy ra.

Copy ghi nguồn TrungTamThuoc.com

Link bài viết:Sốt siêu vi: Nguyên nhân, chẩn đoán và phương pháp điều trị

Tài liệu tham khảo:

  1. Viral Fever: Symptoms, Complications, and Treatment; https://www.practo.com/health-wiki/viral-fever-symptoms-complications-and-treatment/25/article
  2. Điều trị sốt virus; Bệnh viện 108

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa : ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

BỆNH DO VI RÚT ZIKA tin tức tại bệnh truyền nhiễm BỆNH DO VI RÚT ZIKA tin tức tại bệnh truyền nhiễm

nhiễm vi rút zika là bệnh truyền nhiễm cấp tính do muỗi aedes truyền và có thể gây dịch. vi rút zika thuộc chi flavivirus, họ flaviridae. bệnh do vi rút zika thường diễn biến lành tính, hiếm gặp những ca bệnh nặng và tử vong. vi rút zika có thể gây hội chứng não bé.

BỆNH LỴ A MÍP tin tức tại bệnh truyền nhiễm BỆNH LỴ A MÍP tin tức tại bệnh truyền nhiễm

bệnh lỵ a míp là bệnh truyền nhiễm lây bằng đường tiêu hóa do a míp lỵ (entamoeba histolytica) gây ra. a míp lỵ gây tổn thương ở đại tràng. lâm sàng biểu hiện đặc trưng bởi hội chứng lỵ. bệnh lỵ a míp thường có tiến triển kéo dài và dễ trở thành mạn tính nếu không được điều trị đúng.

BỆNH VIÊM NÃO, MÀNG NÃO DO ĐƠN BÀO NAEGLERIA FOWLERI BỆNH VIÊM NÃO, MÀNG NÃO DO ĐƠN BÀO NAEGLERIA FOWLERI

bệnh viêm não màng não do đơn bào dạng amip naegleria fowleri là bệnh nhiễm trùng cấp tính hệ thần kinh trung ương. đơn bào sống trong môi trường nước ngọt, xâm nhập vào niêm mạc mũi, qua các đám rối thần kinh dưới niêm mạc để vào não, gây nên tình trạng viêm và tổn thương các tế bào não.

Bệnh thủy đậu: phương thức lây lan, chẩn đoán, điều trị và dự phòng Bệnh thủy đậu: phương thức lây lan, chẩn đoán, điều trị và dự phòng

bệnh thủy đậu có thể gây thành dịch, thường xảy ra vào mùa đông xuân và có thể gặp ở mọi lứa tuổi, hay gặp nhất ở trẻ nhỏ dưới 10 tuổi.


Giỏ hàng: 0