ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi
  1. Trang chủ
  2. Blog bệnh học
  3. Thông tin y học
  4. Hướng tới một phương...

Hướng tới một phương pháp điều trị HIV


Vài nét về HIV

Năm 1981, HIV bùng phát mạnh mẽ và trở thành một căn bệnh nhiễm trùng gây tử vong xảy ra gần như khắp toàn cầu. Từ những ngày đầu, trên thế giới có khoảng 80 triệu ca nhiễm, và ngày nay có tới 37 triệu người sống chung với virus HIV. Những nỗ lực nghiên cứu chuyên sâu đã dẫn đến sự phát triển của liệu pháp kháng vi-rút HIV (ART) cứu sống hàng trăm triệu người. ART có thể giảm vi-rút xuống mức độ không thể phát hiện được (dưới 20 bản sao vi-rút trên mỗi ml máu), khi đó làm ngừng sự tiến triển của bệnh và rất khó lây nhiễm cho người khác

Hình ảnh trên kính hiển vi điện tử quét (SEM) cho thấy sự xuất hiện của nhiều virion gây suy giảm miễn dịch ở người-1 (HIV-1) nảy chồi từ một tế bào lympho nuôi cấy. Nhiều vết sưng tròn trên bề mặt tế bào đại diện cho các vị trí lắp ráp và nảy chồi của virion. CDC / C. Goldsmith, P. Feorino, E. L. Palmer, W. R. McManus

HIV tiếp tục gây tiêu tốn chi phí đáng kể cho cá nhân, các công ty bảo hiểm hoặc chính phủ để chi trả thuốc men và theo dõi tiến triển của bệnh, đồng thời ảnh hưởng đến thể chất của các cá nhân khi phải chịu các tác dụng phụ của thuốc đều trị, gây suy giảm miễn dịch, và để lại tâm lý không thoải mái, bị kì thị, trầm cảm và lo lắng

Một phương pháp điều trị HIV sẽ loại bỏ nhu cầu điều trị bằng ARV, giải quyết được vấn đề tài chính và cải thiện được đáng kể tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần của bệnh nhân. Hai cách tiếp cận khác nhau đang được thực hiện để phát triển một phương pháp chữa bệnh - kiểm soát sau điều trị và diệt trừ virus.

Kiểm soát sau điều trị

Trong 10 năm qua, các báo cáo ở Pháp, Anh và Mỹ mô tả số lượng nhỏ bệnh nhân duy trì kiểm soát virus sau khi ngừng điều trị ARV. Phần lớn trong số này là những người khởi đầu điều trị ARV trong vòng 3 tháng, đã điều trị ARV trong vài năm và sau đó ngừng điều trị chống lại lời khuyên từ các chuyên gia y tế hoặc trong các thử nghiệm lâm sàng được theo dõi chặt chẽ. Các cơ chế kiểm soát sau điều trị chưa được biết rõ nhưng dường như xuất hiện sự kết hợp của các chức năng miễn dịch.

Khi làm các xét nghiệm nhạy trong phòng thí nghiêm, virus vẫn có thể được phát hiện, do đó rõ ràng virus không bị tiêu diệt. Cho rằng một ít người trong số những người này đã duy trì được sự kiểm soát virus trong vòng 10 năm hoặc lâu hơn, cỏ vẻ như các cơ chế miễn dịch phổ biến không có khả năng bị nhiễm trùng. Mặc dù khoảng 100 phương pháp can thiệp kiểm soát sau điều trị đã được thử nghiệm nhưng hiện tại không có sự can thiệp nào có thể mang lại sự kiểm soát sau điều trị một cách đáng tin cậy và do đó những cá nhân hiếm gặp này là những đối tượng được kiểm tra theo dõi cẩn thận và kỹ lưỡng.

Diệt virut

Cho đến nay chỉ có một trường hợp được biết đến về việc loại bỏ được virus với tên gọi bệnh nhân Berlin. Người đàn ông người Mỹ này, hiện được biết đến là Timothy Ray Brown, đang sống ở Berlin với HIV đã được điều trị tốt bởi ART cho đến khi ông được chẩn đoán mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính và được yêu cầu ghép tế bào gốc. Bác sĩ đã tìm kiếm một người hiến tặng có đột biến gen CCR5delta32, được tìm thấy ở khoảng 1% người Bắc Âu. Đột biến làm cho các tế bào chống lại HIV, cùng với xạ trị và hóa trị liệu mà ông Brown đã loại bỏ được HIV. Hơn 10 năm sau thủ thuật, ông vẫn không bị bệnh bạch cầu và HIV.

Nguy cơ mắc bệnh và tử vong là đáng kể, cùng với sự hiếm có của những người hiến tặng có đột biến gen CCR5delta32, có nghĩa là phương pháp này không thể áp dụng rộng rãi. Liệu pháp gen đã cố gắng bắt chước phương pháp chữa trị này và mang lại kết quả kiểm soát sau điều trị tốt nhất. Các nghiên cứu trên động vật thí nghiệm sử dụng kết hợp các phương pháp dựa trên miễn dịch, như kháng thể và vắc-xin đã loại bỏ nhiễm trùng, nhưng vẫn còn câu hỏi về sự so sánh kết quả ở động vật thí nghiệm với thử nghiệm lâm sàng ở người.

Kiểm tra một phương pháp chữa bệnh

Kiểm tra xem liệu can thiệp có dẫn đến kiểm soát sau điều trị hoặc diệt virus hay không là một trong những vấn đề thách thức nhất của nghiên cứu chữa khỏi HIV. Cách duy nhất để xác định rõ ràng kết quả là ngừng điều trị bằng ART. Nếu virus xuất hiện trở lại, việc diệt virus đã không xảy ra. Nhưng chờ đợi để xem liệu một số kết hợp các phản ứng miễn dịch để kiểm soát vi -rút có mang lại hiệu quả hay không rất căng thẳng và cân não cho cả bác sĩ lâm sàng và người tham gia thử nghiệm.

Các nhà nghiên cứu chờ đợi một khoảng thời gian, thậm chí là đáng kể, có thể lên đến vài tháng. Trong thời gian này, các tế bào TCD4 của hệ thống miễn dịch có thể bị suy giảm đáng kể và có thể truyền virut cho người khác.

Các bác sĩ lâm sàng và những người tham gia nên đợi bao lâu trước khi quyết định can thiệp không có hiệu quả và phải khởi động lại ART? Nếu ART được khởi động lại quá sớm, chúng ta có thể bỏ lỡ một kết quả tích cực. Nhưng nếu phải chờ đợi quá lâu, người tham gia thử nghiệm có thể gặp tác hại đáng kể. Vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát cho những câu hỏi quan trọng này.

Loại thuốc nào tốt hơn?

Các nhà nghiên cứu tin rằng sẽ dễ dàng đạt được sự kiểm soát sau điều trị hơn so với diệt virus, và 100 trường hợp trước đây, so với trường hợp đơn lẻ sau này, đã chứng minh điều này. Do đó, phần lớn nỗ lực trong nghiên cứu chữa khỏi HIV tập trung vào sự hiểu biết và mang lại sự kiểm soát sau điều trị.

Nhưng những người nhiễm HIV hầu như đều thích một kịch bản diệt virus. Mặc dù kết quả sẽ làm giảm gánh nặng của việc tuân thủ điều trị ARV hàng ngày, nhưng chỉ có loại trừ sẽ loại bỏ tình trạng viêm miễn dịch đang diễn ra dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và các sự kiện nghiêm trọng khác. Và quan trọng, chỉ có diệt trừ mới xóa bỏ được sự kỳ thị khi sống chung với HIV.

Ở một số khu vực trên thế giới, nhiễm HIV là mang bản án tử hình, không còn là do hậu quả của việc lây nhiễm mà còn là do thái độ và phản ứng của xã hội. Họ bị đánh đập, bỏ tù và thậm chí là bị giết chỉ vì bị nhiễm HIV. Mặc dù kiểm soát sau điều trị là một mục tiêu tạm thời đáng khen ngợi, chúng ta vẫn hi vọng về một phương pháp chữa trị diệt trừ được virutHIV. Chúng ta không thể loại bỏ HIV khỏi thế giới cho đến khi chúng ta có thể loại bỏ nó khỏi tất cả những người sống với virut HIV

Về Tiến sĩ Rowena Johnston

Là phó chủ tịch và giám đốc nghiên cứu tại amfAR, Rowena Johnston, cô chịu trách nhiệm giám sát chương trình nghiên cứu tiên phong Foundation Foundation. Trách nhiệm của cô bao gồm xác định các ưu tiên nghiên cứu của Foundation, đánh giá và phân tích hướng chương trình, và đóng vai trò là người liên lạc giữa cộng đồng khoa học và các cộng đồng khác.

Năm 2010, Tiến sĩ Johnston là người đã thành lập Hiệp hội Nghiên cứu amfAR về Diệt trừ HIV (ARCHE). Cô chỉ đạo trọng tâm nghiên cứu của Hiệp hội và đảm bảo sự hợp tác giữa những người được cấp ARCHE. Cô cũng giám sát các sáng kiến nghiên cứu chữa bệnh khác của amfAR, cũng như chương trình Foundation Foundation để hỗ trợ các nhà nghiên cứu trẻ.

Copy ghi nguồn: Trungtamthuoc.com

Link bài viết: Hướng tới một phương pháp điều trị HIV

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa :

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

Giới thiệu nhóm kháng sinh macrolid Giới thiệu nhóm kháng sinh macrolid

erythromycin là kháng sinh đầu tiên thuộc nhóm macrolid, được phân lập từ chủng xạ khuẩn streptomyces erythreus. dựa vào cấu trúc của erythromycin người ta bán tổng hợp tạo ra các kháng sinh khác có nhiều ưu điểm hơn. cấu trúc cơ bản của các macrolid là đều có vòng macrocyclolacton. các macrolid khác nhau chỉ khác nhau về nhóm chức và số lượng nguyên tử carbon ở vòng lacton.

cocain những tác động tích cực và tiêu cực khi sử dụng cocain những tác động tích cực và tiêu cực khi sử dụng

cocain là một loại chất kích thích làm tăng tốc độ dẫn truyền giữa các bộ phận cơ thể và não bộ.cocain gây cảm giác hưng phấn, năng lượng dồi dào, có cảm giác vui vẻ và làm việc tập trung, giảm cảm giác mệt mỏi.cocain gây tác dụng vào phần não giữa – vta

Chấn thương sọ não: chẩn đoán và điều trị Chấn thương sọ não: chẩn đoán và điều trị

ctsn là những thương tích hộp sọ và cấu trúc bên trong sọ. lâm sàng thường gặp các trường hợp sau: • vết thương rách lóc da đầu • tụ máu dưới da đầu • chấn động não • xuất huyết dưới nhện • nứt sọ, lún sọ, tụ khí nội sọ • vết thương sọ não • máu tụ ngoài màng cứng

Bệnh động kinh: nguyên nhân, phân loại và cơ chế của bệnh Bệnh động kinh: nguyên nhân, phân loại và cơ chế của bệnh

động kinh ( epilepsy) là sự rối loạn từng cơn chức năng của thần kinh trung ương do sự phóng điện đột ngột, quá mức, đồng thời của các neuron. đến năm 2015, khoảng 39 triệu người bị bệnh động kinh, trong đó khoảng 80% là ở các nước đang phát triển. vào năm 2015 có khoảng 125 000 người tử vong


Giỏ hàng: 0