ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

Hạ huyết áp tư thế: nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

  1. Trang chủ
  2. Blog bệnh học
  3. Bệnh tim mạch
  4. Hạ huyết áp tư thế: ...

Hạ huyết áp tư thế: nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

811 15/08/2018 bởi Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng

Hạ huyết áp tư thế là gì?

Theo Hiệp Hội Thần Kinh Tự Chủ Hoa Kỳ (American Autonomic Society) và Viện Thần Kinh Hoa Kỳ (American Academy of Neurology), hạ huyết áp tư thế là tình trạng lâm sàng với huyết áp tâm thu giảm ít nhất 20 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương giảm ít nhất 10 mmHg khi đứng trong vòng 3 phút.

Tình trạng này có thể có hoặc không có triệu chứng đi kèm. Các triệu chứng như hoa mắt, nhìn mờ, chóng mặt, lú lẫn… xảy ra vài giây đến vài phút khi đứng và biến mất khi nằm. Một số bệnh nhân có thể té ngã, ngất hoặc động kinh toàn thể.

Hạ huyết áp tư thế đứng có thể xảy ra cho bất cứ ai nhưng phổ biến hơn ở người lớn tuổi. Hạ huyết áp tư thế đứng thường là nhẹ, kéo dài vài giây đến vài phút sau khi đứng. Tuy nhiên, hạ huyết áp tư thế đứng lâu dài có thể là một dấu hiệu của nhiều vấn đề nghiêm trọng hơn, do đó, nói chuyện với bác sĩ nếu thường xuyên cảm thấy váng khi đứng. Nó thậm chí còn cấp bách hơn, đến gặp bác sĩ nếu bị mất ý thức, ngay cả trong giây lát.

Cơ chế bệnh sinh của hạ huyết áp tư thế

Nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”: khi một người ở tư thế đứng, do ảnh hưởng của trọng lực, máu sẽ bị giữ ở các tĩnh mạch lớn ở phần thấp của cơ thể (500-1000ml). Sự giảm hồi lưu tĩnh mạch gây ra giảm cung lượng tim, do đó làm giảm huyết áp (HA). Ở người bình thường, các áp thụ quan ở quai động mạch chủ và thể cảnh ghi nhận sự thay đổi về HA, hoạt hóa các phản xạ thần kinh tự chủ (Hình 1). Hệ giao cảm tăng nhịp tim, co bóp cơ tim, và tăng trương lực co thắt tĩnh mạch. Hệ phó giao cảm bị ức chế cũng làm tăng nhịp tim. Khi đứng lâu, sự hoạt hóa hệ renin-angiotensin-aldosterone và bài tiết ADH giữ muối, nước làm tăng thể tích tuần hoàn. HHATT xảy ra khi các cơ chế cân bằng nội môi bị phá vỡ:

Hoặc  Rối loạn các bộ phận hướng tâm, trung ương, ly tâm của cung phản xạ thần kinh tự chủ.

Hoặc  Giảm co bóp cơ tim và đáp ứng mạch máu

Hoặc  Giảm thể tích tuần hoàn

Hoặc  Rối loạn đáp ứng hormon

Nguyên nhân nào gây ra hạ huyết áp tư thế?

Khi đứng lên, lực hấp dẫn gây ra máu đến hồ bơi ở chân. Điều này làm giảm huyết áp vì có ít máu lưu thông trở lại tim. Thông thường, các tế bào đặc biệt (baroreceptors) bên cạnh tim và các động mạch cổ có ý nghĩa với hạ huyết áp và chống lại nó bằng cách kích hoạt tim đập nhanh hơn và bơm máu nhiều hơn nhằm ổn định huyết áp. Ngoài ra, những tế bào này gây thu hẹp các mạch máu, làm tăng sức đề kháng để lưu thông máu và tăng huyết áp.

Hạ huyết áp tư thế xảy ra khi một cái gì đó làm gián đoạn quá trình tự nhiên của cơ thể chống lại huyết áp thấp. Hạ huyết áp tư thế đứng có thể được gây ra bởi nhiều thứ khác nhau, bao gồm:

  • Mất nước

Sốt, nôn ói, không uống đủ nước, tiêu chảy nặng và tập luyện vất vả - tất cả có thể dẫn đến mất nước. Khi bị mất nước, cơ thể mất nước và natri nhiều hơn hơn là nhập, Ngay cả mất nước nhẹ có thể gây ra yếu, chóng mặt và mệt mỏi.

  • Vấn đề về tim

Một số bệnh tim có thể dẫn tới huyết áp thấp, bao gồm nhịp tim rất thấp (nhịp tim chậm), các vấn đề van tim, đau tim và suy tim. Các điều kiện này có thể gây hạ huyết áp tư thế đứng, vì ngăn chặn cơ thể có thể lưu thông máu đủ.

  • Bệnh tiểu đường

Nếu không điều trị bệnh tiểu đường có thể gây mất nước bằng cách đi tiểu thường xuyên. Điều này có thể gây hạ huyết áp tư thế đứng. Ngoài ra, bệnh tiểu đường có thể làm hỏng các dây thần kinh gửi tín hiệu giúp điều hòa huyết áp.

  • Rối loạn hệ thống thần kinh

Một số bệnh, chẳng hạn như của bệnh Parkinson, nhiều hệ thống teo (hội chứng Shy-Drager) và amyloidosis, có thể phá vỡ hệ thống quy định huyết áp bình thường của cơ thể.

Chẩn đoán hạ huyết áp tư thế (HHATT) như thế nào?

Lâm sàng

HHATT được chẩn đoán khi sự giảm đáng kể HA và các triệu chứng gợi ý hạ HA gây ra bởi tư thế đứng và giảm khi nằm.

  • Bệnh sử:

Bệnh sử của các bệnh hiện tại nên xác định thời gian và mức độ của các triệu chứng (như có liên quan đế ngất hoặc té ngã). Các bệnh nhân được hỏi về các yếu tố khởi phát (như thuốc, nằm lâu, mất dịch) và mối quan hệ của các triệu chứng với bữa ăn. Cần tìm các triệu chứng của các rối loạn nguyên nhân, nhất là các triệu chứng của suy giảm hệ thần kinh tự chủ như giảm thị lực (do dãn đồng tử và mất điều tiết), bất lực hoặc bí tiểu, táo bón, không dung nạp nhiệt độ (do rối loạn tiết mồ hôi), và rối loạn cương dương. Các triệu chứng quan trọng khác bao gồm run, cứng đờ, và khó đi lại (bệnh Parkinson, teo đa hệ thống); yếu và mệt (suy thượng thận, thiếu máu); và phân đen như hắc ín (xuất huyết tiêu hóa). Các triệu chứng khác của rối loạn thần kinh và tim mạch và ung thư cần được lưu ý.Một số bệnh nhân có thể không hiện diện các đặc điểm bệnh sử kinh điển của HHATT. Ở các bệnh nhân lớn tuổi, báo cáo triệu chứng hoa mắt khi đứng có thể không tương quan với việc phát hiện HHATT. Một nghiên cứu tiến cứu ở phụ nữ lớn tuổi cho thấy sự sử dụng thuốc chống lo âu hoặc hỗ trợ ngủ một lần mỗi tuần và hút thuốc lá có mối liên quan chặt chẽ hơn với triệu chứng hoa mắt tư thế mà không HHATT so với phát hiện HHATT trong NPBN. Ở các bệnh nhân Parkinson, các triệu chứng kinh điển của HHATT không hiện diện đáng tin cậy ở các bệnh nhân rối loạn chức năng thần kinh tự chủ. Một nghiên cứu 50 bệnh nhân hội chứng Parkinson cho thấy chỉ hơn một nửa bệnh nhân HHATT trong NPBN có triệu chứng.

  • Tiền sử:

Nên xác định các nguyên nhân tiềm năng đã biết, bao gồm bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, bệnh Parkinson, và ung thư (hội chứng cận ung). Thuốc nên được đánh giá về tác dụng gây ra HHATT (xem bảng 1), đặc biệt là thuốc hạ áp và nitrate. Tiền sử gia đình của HHATT gợi ý RLTKTC có tính gia đình.

  • Khám thực thể:

Đo huyết áp:

Hoặc  Đo HA ở tư thế nằm và đứng. Nếu bệnh nhân không thể đứng, có thể đánh giá với tư thế ngồi thẳng.

Hoặc  Giải thích cho bệnh nhân hiểu cách làm và yêu cầu bệnh nhân báo các triệu chứng khó chịu trong quá trình làm nghiệm pháp.

Hoặc  Đo HA cùng 1 cánh tay với 1 máy đo HA và bắt mạch cùng 1 vị trí.

Hoặc  Đo HA sau khi BN nằm đầu ngang 5 phút; đứng 1 phút và 3 phút.

Hoặc  Xác định hạ HA tư thế: HATT giảm ≥ 20 mmHg và/hoặc HATTr giảm ≥ 10 mmHg.

Hạ huyết áp mà không có sự gia tăng bù trừ nhịp tim (< 10 lần/phút) gợi ý rối loạn thần kinh tự chủ; tăng nhịp tim đáng kể (> 100 lần/phút hoặc tăng > 30 lần/phút) gợi ý giảm thể tích tuần hoàn. Khoảng 2/3 bệnh nhân HHATT có thể không được phát hiện nếu không được đo HA khi đứng. Tuy nhiên, một nghiên cứu tiến cứu 730 bệnh nhân cho thấy sinh hiệu tư thế có giá trị tiên đoán kém (giá trị tiên đoán dương = 61,7%; giá trị tiên đoán âm = 50,2%) khi được so sánh với NPBN trong chẩn đoán HHATT.

Khám da niêm tìm các dấu hiệu mất nước và sự thay đổi sắc tố da gợi ý bệnh Addison (như tăng sắc tố da, bạch biến). Khám trực tràng để phát hiện xuất huyết tiêu hóa. 

Trong khám thần kinh, tiếp cận chi tiết hệ thần kinh vận động nên được thực hiện để đánh giá các dấu hiệu của bệnh Parkinson, cũng như thất điều tiểu não. Phản xạ trực tràng và niệu dục được kiểm tra để đánh giá chức năng thần kinh tự chủ; các đánh giá bao gồm phản xạ da bìu, phản xạ thắt hậu môn và phản xạ hành hang. Các dấu hiệu của bệnh thần kinh ngoại biên (như bất thường sức cơ, cảm giác, và phản xạ gân sâu) cũng được đánh gía.

Cận lâm sàng

Xét nghiệm máu. Đây có thể cung cấp một nhất định các thông tin về sức khỏe tổng thể cũng như cho dù có lượng đường trong máu thấp (hạ đường huyết) hoặc một số tế bào máu thấp (thiếu máu), cả hai đều có thể gây hạ huyết áp.

Điện tâm đồ (ECG). Điều thử nghiệm này không xâm lấn phát hiện bất thường trong nhịp tim hoặc cấu trúc tim, và các vấn đề với việc cung cấp máu và ôxy cho cơ tim.

Siêu âm tim. Điều này không xâm lấn, trong đó bao gồm siêu âm ngực, cho thấy hình ảnh chi tiết của cấu trúc và chức năng của tim. Sóng siêu âm được truyền đi, và tiếng vang của được ghi lại với một thiết bị gọi là bộ chuyển đổi tổ chức bên ngoài cơ thể. Một máy tính sử dụng thông tin từ các bộ chuyển đổi để tạo ra hình ảnh chuyển động trên một màn hình video.

Stress thử nghiệm. Một số vấn đề về tim có thể gây huyết áp thấp dễ dàng để chẩn đoán khi trái tim làm việc. Trong một bài kiểm tra căng thẳng, sẽ tập thể dục, chẳng hạn như đi bộ trên máy chạy bộ. Hoặc, có thể được cho thuốc để làm cho tim làm việc chăm chỉ hơn nếu không thể tập thể dục. Khi trái tim đang làm việc chăm chỉ hơn, trái tim sẽ được theo dõi điện tim hoặc siêu âm tim. Huyết áp cũng sẽ được theo dõi.

Bảng thử nghiệm. Một thử nghiệm bàn nghiêng đánh giá cơ thể phản ứng với những thay đổi về vị trí như thế nào. Trong thời gian thử nghiệm, nằm trên một bảng bắt đầu bằng phẳng và sau đó nghiêng để nâng phần trên của cơ thể, mô phỏng sự di chuyển từ một nằm ngang với vị trí đứng. Huyết áp được thực hiện đo thường xuyên.

Valsalva nghiệm pháp. Kiểm tra thử nghiệm này không xâm lấn, biết các chức năng của hệ thần kinh tự trị bằng cách phân tích nhịp tim và huyết áp sau khi một số chu kỳ của hít thở sâu: Có một hơi thở sâu và sau đó lực lượng không khí thổi thông qua đôi môi, như đang cố gắng thổi một quả bóng cứng.

Huyết áp và ghi điện tâm đồ 24h. Điều này liên quan đến việc kiểm tra huyết áp, đeo một túi hơi trong 24 giờ với ghi tự động định kỳ của huyết áp. Cũng sẽ được trang bị một màn hình để cho phép đọc ECG liên tục. Sẽ được yêu cầu giữ một cuốn nhật ký và cố gắng để nắm bắt cơn hạ huyết áp tư thế đứng liên tục.

Điều trị hạ huyết áp tư thế như thế nào?

Nhiều chọn lựa điều trị mới đối với HHATT đã được nghiên cứu trong các thập niên qua. Các thử nghiệm có đối chứng đã được thực hiện với điều trị thuốc và phương pháp vật lý. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu này chỉ bao gồm một nhóm nhỏ các bệnh nhân với các rối loạn khác nhau gây ra HHATT, và sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán phân biệt khác nhau.

Mục tiêu điều trị HHATT

  • Nâng HA khi đứng mà không làm tăng HA khi nằm
  • Giảm các triệu chứng khi đứng, tăng thời gian bệnh nhân có thể đứng
  • Cải thiện khả năng thực hiện các hoạt động hàng ngày

Để đạt mục tiêu điều trị trên, bước đầu tiên là chẩn đoán và điều trị nguyên nhân. Nếu nguyên nhân không có điều trị đặc hiệu hoặc điều trị không khỏi hoàn toàn thì cần áp dụng các biện pháp không dùng thuốc và xem xét dùng thuốc.

Điều trị không dùng thuốc

Tránh các yếu tố có thể gây HHATT được khuyến cáo hàng đầu, nhất là ở các dạng nhẹ. Giáo dục bệnh nhân và người chăm sóc về mục tiêu và các biện pháp điều trị của HHATT. Bước tiếp theo bao gồm một loạt các chiến lược điều trị không dùng thuốc. Bảng sau:

Điều trị dùng thuốc

  • Fludrocortisone

Phối hợp chế độ ăn nhiều muối, ngủ nâng đầu giường 20-30 cm và liều thấp fludrocortisone (0,1-0,2 mg) là biện pháp hiệu quả cải thiện HHATT. Phù nhẹ có thể xảy ra và fludrocortisone nên được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân có albumin huyết tương thấp. Liều cao fludrocortiosone có thể gây ra quá tải dịch và suy tim sung huyết, THA nặng khi nằm và giảm kali máu. Để phòng ngừa giảm kali máu, tư vấn bệnh nhân ăn thực phẩm giàu kali như trái cây, rau cải, gia cầm, cá và thịt. Nhức đầu có thể xảy ra, nhất là khi nằm.

  • Đồng vận thụ thể alpha

Có nhiều thuốc hướng giao cảm tác dụng thụ thể alpha-adrenergic. Midodrine đã được nghiên cứu rộng rãi. Adrenaline (epinephrine) và noradrenaline (norepinephrine) không có tác dụng khi uống, và nhanh chóng bất hoạt trong cơ thể sau khi truyền. Các tác dụng phụ phổ biến của thuốc hướng giao cảm với tác dụng trung ương, như ephedrine, là nhịp nhanh, lo lắng, không nghỉ ngơi, mất ngủ và run. Khô miệng, giảm tuần hoàn đến các chi, THA khi nằm, và rối loạn nhịp tim có thể xảy ra.

  • Midodrine

Midodrine được khuyến cáo là đơn trị liệu hoặc điều trị phối hợp (như với fludrocortisone). Liều khởi đầu là 2,5 mg uống 2 đến 3 lần mỗi ngày, tăng dần dần đến 10 mg 3 lần/ngày.

  • Dihydroxyphenylserine

Với liều 200 – 400 mg/ngày L-DOPS giảm HHATT. Đây là biện pháp điều trị hiệu quả duy nhất của thiếu dopamine beta-hydroxylase.

  • Octreotide

Liều tiêm dưới da 25-50 ug nửa giờ trước bữa ăn có thể làm giảm HHATT sau ăn. Thuốc không làm THA khi nằm. Buồn nôn và co thắt bụng có thể xảy ra.

Copy ghi nguồn TrungTamThuoc.com

Link bài viết:Hạ huyết áp tư thế: nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Tài liệu tham khảo:

  1. Chẩn đoán và điều trị hạ huyết áp tư thế; Hội tim mạch học Việt Nam. 
  2. Hạ huyết áp tư thế đứng; theo dieutri.vn
  3. Hạ huyết áp tư thế; theo timmachhoc.info
  4. Hạ huyết áp tư thế đứng; theo Hellobacsy

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa : , ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

VIÊM MÀNG NGOÀI TIM tin tức tại bệnh tim mạch

VIÊM MÀNG NGOÀI TIM tin tức tại bệnh tim mạch

viêm màng ngoài tim là một tình trạng bệnh lý có nguồn gốc do phản ứng viêm của màng ngoài tim, bệnh hay gặp ở nam> nữ.viêm màng ngoài tim do nhiễm trùng: virus (coxsakie a, b, quai bị, adeno, viêm gan), vi trùng sinh mủ (phế cầu, liên cầu, tụ cầu), lao, nấm.

THÔNG LIÊN THẤT tin tức tại bệnh tim mạch

THÔNG LIÊN THẤT tin tức tại bệnh tim mạch

thông liên thất là tổn thương bẩm sinh do khiếm khuyết một hay nhiều nơi trên vách liên thất khiến có sự thông thương giữa hai tâm thất. thường gặp thông liên thất phần màng. bệnh thường gặp nhất trong các dị tật tim bẩm sinh chiếm tỷ lệ 25% trong các bệnh tim bẩm sinh.

SỐC NHIỄM KHUẨN tin tức tại bệnh tim mạch

SỐC NHIỄM KHUẨN tin tức tại bệnh tim mạch

sốc nhiễm khuẩn là giai đoạn nặng của quá trình diễn biến liên tục bắt đầu từ đáp ứng viêm hệ thống do nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn nặng, sốc nhiễm khuẩn và suy đa tạng.vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể gây ra các đáp ứng viêm hệ thống làm giải phóng các cytokin gây viêm.

Bệnh xơ vữa động mạch tin tức tại bệnh tim mạch

Bệnh xơ vữa động mạch tin tức tại bệnh tim mạch

bệnh vữa xơ động mạch là sự phối hợp những biến đổi của lớp nội mạc động mạch (lớp áo trong) bao gồm sự tích tụ tại chỗ các lipid, phức hợp glucid



Giảm Nhiều Nhất

Goldream/tạo giấc ngủ ngon/trungtamthuoc.com giá bao nhiêu tiền? có tác dụng gì?

Goldream

200,000 vnđ
Thuốc Coveram 5mg/10mg có tác dụng làm hạ huyết áp

Coveram Tab.5/10

198,000 vnđ
Thuốc Ameflu + C - Thuốc điều trị cảm lạnh, cảm cúm

Ameflu + C

100,000 vnđ

Đánh Giá Cao Nhất

Rosuvastatin stada 10 mg - Thuốc hạ mỡ máu giá bao nhiêu tiền? có tác dụng gì?

Rosuvastatin10 mg

150,000 vnđ

Xem Nhiều Nhất

Thuốc Pricefil 500mg giá bao nhiêu? mua ở đâu? có tác dụng gì?

Pricefil 500mg

450,000 vnđ
Althax 120mg - Tăng cường miễn dịch, hỗ trợ điều trị nhiễm trùng

Althax 120mg

200,000 vnđ
Giỏ hàng: 0