ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

Hạ đường huyết: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Hạ đường huyết: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

1383 15/08/2018 bởi Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng

Đại cương về hạ đường huyết

- Hạ đường huyết là một tình huống cấp cứu vì nó có thể diễn biến nhanh chóng đến hôn mê, có thể gây tử vong cho cho người bệnh, nhưng nếu được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ mang lại kết quả tốt, người bệnh sẽ phục hồi không để lại di chứng. Do đó, việc điều trị nâng nồng độ đường máu lên phải được thực hiện ngay khi phát hiện bệnh nhân có hạ đường huyết.

- Bình thường nồng độ đường trong máu là 3,9- 5,6 mmol/L (70- 100 mg/dl) lúc đói. Khi đường máu giảm xuống dưới 3,9 mmol/L (70 mg/dl),người ta gọi là hạ đường huyết, tùy theo mức hạ đường huyết mà trên lâm sàng biểu hiện ở các mức độ khác nhau.

Nguyên nhân gây hạ đường huyết là gì?

- Hạ đường máu thường gặp trong các trường hợp sau:

+ Bệnh nhân đái tháo đường đang được điều trị bằng insulin ngoại sinh hoặc các thuốc kích thích bài tiết insulin nội sinh

+ Sự thay đổi các sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân đái tháo đường như chế độ ăn, luyện tập hoặc thay đổi liều insulin có thể gây hạ đường máu.

+ Tuy nhiên cũng có nhiều yếu tố khác có thể gây hạ đường máu ở cả bệnh nhân đái tháo đường và không đái tháo đường như nhiễm khuẩn, rối loạn nội tiết, thuốc/rượu, các khối u, hoặc suy dinh dưỡng…

Insulin ngoại sinh

- Ở bệnh nhân đái tháo đường, hạ đường máu có thể xẩy ra do:

+ Trì hoãn việc ăn uống ngay sau khi tiêm insulin, suy dinh dưỡng, kém hấp thu do buồn nôn và nôn hoặc liệt ruột

+ Hoạt động thể chất tăng

+ Căng thẳng tâm lý do nhiễm khuẩn hoặc các thương tổn

+ Thay đổi vị trí tiêm insulin (sự hấp thu insulin thay đổi theo các vị trí tiêm khác nhau)

+ Tổn thương trục hormon điều hòa ngược

+ Insulin được giải phóng quá mức do thuốc sulfonylurea, đặc biệt là khi có suy thận

+ Thay đổi điều trị, đặc biệt là tăng liều insulin hoặc thuốc uống hạ đường máu, hoặc bổ xung thêm thuốc mới như thiazolidinedione có thể làm giảm kháng insulin và cải thiện tác dụng điều trị của insulin nội sinh và ngoại sinh

U tế bào β tuyến tụy

- U tế bào β bài tiết insulin ở các đảo Langerhans của tuyến tụy có thể gây hạ đường máu dai dẳng và thậm chí hôn mê

Rượu (alcohol)

- Uống quá nhiều ethanol, đặc biệt là không bổ xung calo đầy đủ, có thể gây hạ đường máu nặng (đặc biệt ở trẻ em). Lạm dụng rượu mạn tính làm giảm tổng hợp glucose qua trung gian NADH và làm suy yếu khả năng tân tạo và dự trữ glycogen tại gan

Hạ đường máu sau ăn

- Ở bệnh nhân không có đái tháo đường , ăn một lượng lớn thực phẩm thô rắn có thể kích thích giải phóng một lượng insulin đủ lớn gây hạ đường máu nhẹ không triệu chứng. Hiếm khi hạ đường máu trong trường hợp này gây giảm mức độ ý thức.

Sinh lý bệnh hạ đường huyết

Dấu hiệu thần kinh trung ương

- Đường là thành phần nuôi dưỡng tế bào não. Gan là nơi duy trì sự ổn định đường huyết nhờ vào sự tân tạo glycogen.

-  Khi dự trữ đường cạn kiệt gây tổn thương tế bào não, những vùng dễ bị tổn thương là vỏ não, dưới vỏ (nhân đuôi, dưới đồi, hành não).

Dấu hiệu thần kinh thực vật     

- Hạ đường huyết gây ngừng tiết ínsulin và làm tăng tiết các hormor: điều hoà khác: glucagon, adrenalin, cortison, ACTH và GH,

- Kích thích giải phóng noradrenalin, acetylcholín từ những thần kiiili  sau hạch giao cảm và cận giao cảm. Những triệu chứng thể hiện là do sự tồng ; tiết ađrenalin.

Chẩn đoán hạ đường huyết như thế nào?

Chẩn đoán xác định

Triệu chứng lâm sàng

- Các triệu chứng gợi ý hạ đường huyết:

Bệnh nhân cảm thấy mệt đột ngột, cảm giác đói cồn cào không giải thích được, có thể chóng mặt, đau đầu, lo âu, tay chân nặng nề, yếu. Mức độ nặng hơn có thể có da xanh tái, vã mô hôi, hồi hộp đánh trống ngực, lo âu, hốt hoảng hoặc kích động, loạn thần.

Nhịp tim nhanh, thường nhanh xoang, có thể gặp cơn nhịp nhanh thất hoặc trên thất, tăng huyết áp tâm thu, có thể có cơn đau thắt ngực hoặc cảm giác nặng ngực.

- Hôn mê hạ đường huyết

Là giai đoạn nặng của hạ đường huyết có thể xuất hiện đột ngột không có dấu hiệubáo trước. Hôn mê thường xuất hiện nối tiếp các triệu chứng hạ đường huyết nhưng không được điều trị kịp thời. Thường là hôn mê yên lặng và sâu

Các triệu chứng có thể gặp đi kèm với tình trạng hôn mê như dấu hiện thần kinh khu trú, Babinski cả 2 bên, hôn mê sâu có thể giảm phản xạ gân xương, một số trường hợp có thể xuất hiện co giật toàn thân hoặc co giật cục bộ, tăng trương lực cơ.

- Phải luôn nghĩ đến hôn mê hạ đường huyết trước một bệnh nhân hôn mê chưa rõ nguyên nhân, sau tiêm tĩnh mạch dung dịch đường ưu trương bệnh nhân tỉnh lại

Cận lâm sàng

- Làm ngay một mẫu xét nghiệm đường máu mao mạch đầu ngón tay và lấy một mẫu máu làm xét nghiệm đường huyết tĩnh mạch trước khi tiêm hoặc truyền glucose cho bệnh nhân. Bình thường nồng độ đường máu lúc đói là 3,9- 5,6 mmol/L (70- 100 mg/dL)

- Khi đường máu giảm xuống dưới nồng độ dưới 3,9 mmol/L (70 mg/dL) người ta gọi là hạ đường huyết.

- Khi nồng độ đường huyết dưới 2,8 mmol/L (50 mg/dL) xuất hiện các triệu chứng nặng của hạ đường huyết

Chẩn đoán độ nặng:

- Hạ đường huyết mức độ nhẹ: Bệnh nhân tỉnh, có biểu hiện cường giao cảm như run tay, cồn cào, hoa mắt, nhịp tim nhanh, trống ngực, vã mồ hôi. Mức đường huyết thường từ 3,3 – 3,6 mmol/L.

- Hạ đường huyết mức độ trung bình: Cơn hạ đường huyết có biểu hiện thần kinh như nhìn mờ, giảm khả năng tập chung, lơ mơ, có thể rối loạn định hướng. Mức đường huyết thường từ 2,8 - 3,3mmol/L.

- Hạ đường huyết mức độ nặng: Bệnh nhân có thể mất định hướng, cơn loạn thần, co giật, rối loạn ý thức, hôn mê. Mức đường huyết thường dưới 2,8 mmol/L.

Chẩn đoán phân biệt:

- Trong một số trường hợp cần phải phân biệt với các bệnh lý gây hôn mê khác hoặc có thể phối hợp với các bệnh lý gây hôn mê khác như:

Hôn mê sau chấn thương sọ não

Tai biến mạch máu não

Hôn mê do các nguyên nhân chuyển hóa khác như bệnh não gan, hội chứng u rê máu cao, hạ natri máu, tăng đường huyết,..

Hôn mê do ngộ độc thuốc nhóm an thần gây ngủ

Nhiễm trùng thần kinh

Sau co giật, sau cơn động kinh

Các loạn thần cấp.

Chẩn đoán nguyên nhân

- Đối với người bệnh tiểu đường đang điều trị bằng insulin có thể do nguyên nhân sau:

Quá liều insulin, insulin hấp thu quá nhanh hoặc quá kéo dài do loạn dưỡng mỡ dưới da ở những vùng tiêm insulin lâu ngày, tiêm ở những vùng hoạt động nhiều (tay, chân...) chườm nóng, xoa bóp vùng tiêm sau khi tiêm insulin.

Sai lầm về chế độ ăn:

Ăn quá chậm sau tiêm insulin, ăn không đủ hoặc thiếu bữa ăn phụ.

Bỏ bữa ăn, ăn quá ít mà vẫn tiêm insulin.

- Đối với người bệnh điều trị bằng thuốc viên (sulfamid), hạ đường huyết thường có các nguyên nhân sau:

Uống quá liều, uống thuốc xa bữa ăn chính. Không ăn nhưng vẫn uống thuốc.

Tự động uống thuốc không theo chỉ định của bác sĩ. Hoạt động thể lực quá sức.

- Đối với người bệnh không có tiểu đường, không điều trị các thuốc hạ đường huyết thì rất hiếm có khả năng bị hạ đường huyết. Khi có hạ đường huyết phải tìm nguyên nhân và các yếu tốt thuận lợi gây hạ đường huyết như:

Suy gan nặng, suy gan kèm nhiễm trùng nặng

Nhịn ăn kéo dài sau phẫu thuật đường tiêu hóa.

Suy thượng thận, suy tuyến giáp, ngộ độc rượu, ngộ độc thuốc hạ đường máu

Bị hạ thân nhiệt, có u tiết insulin (insulinome)

Điều trị hạ đường huyết bằng cách nào?

Là một cấp cứu nội khoa ảnh hưởng đến tiên lượng sống, cần điều trị ngay khi có tình trạng hạ đường huyết, Tốt nhất là sau đó có kết quả đường huyết. khẳng định tình trạng hạ đường huyết,

Trong trường hợp không có rối loạn ý thức và rối loạn tiêu hoá: cho bệnh nhân ăn là đủ

- Cần tối thiểu 15g đường (3 miếng đường nhỏ, mỗi miếng chứa 5g đường)

-  100ml nước ngọt (Cocacola) -  ll0g đường/1 hoặc;

-  100 -  150ml nước hoa quả (l00g đường trong 1 lít)

Trong trường hợp rối loạn ý thức và rối loạn tiêu hóa

-  Tiêm bolus tĩnh mạch 1 ống glucose 50% (25g glucose) khi hạ ĐH nặng sau đó duy trì ĐH > 5,5mmol/l bằng truyền Glucose.

-  Bệnh nhân vật vã không thể đặt đường truyền tĩnh mạch: tiêm bắp một ống Glucagon lmg. Tiêm nhắc lại sau 10 phút nếu không kết quả.

- Trong trường hợp hạ đường huyết kéo dài chống tái phát bằng truyền:glucose 10% 1000ml trong 4h, sau đó l000ml trong 12h.

-  Trường hợp bệnh nhân tỉnh có thể duy trì qua đường uống.

-  Cần theo dõi chặt chẽ ĐH (4h/lần) không để đường máu vượt quá  1lmmol/1.

-  Trường hợp hôn mê kéo đài (do điều trị quá muộn hay đã bị biến chứng phù não hay TBMN). Duy trì ĐH 2g/1 bằng glucose 10% và chống phù não bằng hydrocortison lOOmg 4h/lần hoặc bằng Manìtol.

-  Thái độ xử trí tiếp theo tuỳ thuộc nguyên nhân gây hạ ĐH.

Bệnh nhân đái tháo đường đang điều trị bằng insulin: hướng dẫn kỹ lại cách dự phòng và điều trị hạ ĐH.

Nếu hạ ĐH do dùng suhonylurea có thể gây tình trạng hạ ĐH nặng và  kéo dài nhất là ở người già, suy gan, suy thận. Truyền glucose 10% tĩnh mạch kéo dài 2000ml/24h và cho vào viện .theo dõi,

Bệnh nhân rối loạn ý thức nặng không ăn được qua đường miệng nên vào viện ngay để điều trị và theo dõi

Trường hợp u tiết insulin trước phẫu thuật có thể đùng một số thuốc  làm ngừng tiết insulin như Diasoxid (Proglycemol) 300mg/ngày đường  uống hoặc Sandostatin tiêm dưới da 1000 -  2000 µg/ngày.

Copy ghi nguồn TrungTamThuoc.com

Link bài viết:Hạ đường huyết: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Tài liệu tham khảo:

  1. Chẩn đoán và xử trí cấp cứu hạ đường huyết; Theo bacsinoitru
  2. https://www.webmd.com/diabetes/guide/diabetes-hypoglycemia
  3. Hạ đường huyết: nguyên nhân, triệu chứng, điều trị; Theo capnhatkienthuc

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa : ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

Suy giáp và những triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

Suy giáp và những triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

suy giáp ( hypothyroidism ) là tình trạng giảm chức năng tuyến giáp, dẫn đến hormon tuyến giáp được sản xuất dưới mức bình thường làm cho nồng độ hormon tuyến giáp trong máu giảm, từ đó gây ra những tổn thương ở mô và rối loạn chuyển hóa..teo tuyến giáp tự phát viêm tuyến giáp tự miễn .....

ĐỘT QUỴ TUYẾN YÊN là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột

ĐỘT QUỴ TUYẾN YÊN là hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột

đột quỵ tuyến yên (pituitary apoplexy - đột quỵ tuyến yên) là một hội chứng lâm sàng đặc trưng bởi sự khởi phát đột ngột đau đầu, nôn, suy giảm thị lực và rối loạn ý thức gây ra bởi chảy máu và/ hoặc nhồi máu tuyến yên. đột quỵ tuyến yên không triệu chứng (asymptomatic pituitary apoplexy).

BỆNH BÉO PHÌ là tăng trọng lượng cơ thể tăng khối lượng mỡ quá mức

BỆNH BÉO PHÌ là tăng trọng lượng cơ thể tăng khối lượng mỡ quá mức

béo phì là tình trạng tăng trọng lượng cơ thể mạn tính do tăng khối lượng mỡ quá mức và không bình thường, liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa. sự phát triển kinh tế - xã hội đã làm thay đổi chế độ dinh dưỡng, cung nhiều hơn cầu, kết hợp phong cách sống tĩnh tại nhiều hơn vận động.

THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 - n163

THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2 - n163

insulin nên được tiêm vào tổ chức dưới da  thuốc cần sử dụng phối hợp với một loại hạ glucose máu khác. +  thuốc uốn g ngay trong khi ăn, tốt nhất là ngay sau miếng cơm đầu tiên. trong bữa ăn phải có carbohydrat để thuốc tác dụng.



Giảm Nhiều Nhất

Goldream/tạo giấc ngủ ngon/trungtamthuoc.com giá bao nhiêu tiền? có tác dụng gì?

Goldream

200,000 vnđ
Thuốc Coveram 5mg/10mg có tác dụng làm hạ huyết áp

Coveram Tab.5/10

198,000 vnđ
Thuốc Ameflu + C - Thuốc điều trị cảm lạnh, cảm cúm

Ameflu + C

100,000 vnđ

Đánh Giá Cao Nhất

Rosuvastatin stada 10 mg - Thuốc hạ mỡ máu giá bao nhiêu tiền? có tác dụng gì?

Rosuvastatin10 mg

150,000 vnđ

Xem Nhiều Nhất

Thuốc Pricefil 500mg giá bao nhiêu? mua ở đâu? có tác dụng gì?

Pricefil 500mg

450,000 vnđ
Althax 120mg - Tăng cường miễn dịch, hỗ trợ điều trị nhiễm trùng

Althax 120mg

200,000 vnđ
Giỏ hàng: 0