ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi
  1. Trang chủ
  2. Blog bệnh học
  3. Thông tin y học
  4. Giới thiệu về đặc đi...

Giới thiệu về đặc điểm giải phẫu, chức năng của hệ thần kinh thực vật


Giới thiệu

Hệ thần kinh thực vật (hệ thần kinh tự động) chuyên điều khiển các hoạt động ngoài ý muốn của con người. Nó giữ vai trò điều hòa nhiều cơ quan quan trọng trong cơ thể như hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, than nhiệt, chuyển hóa và bài tiết… Do đó hệ thần kinh thực vật điều hòa những hoạt động có tính chất sống còn đối với cơ thể, giúp cho cơ thể ổn định và thích nghi với với những thay đổi của môi trường sống.

Sợi thần kinh thực vật bắt nguồn từ các trung tâm ở não và tủy sống, đi tới các cơ quan, các tạng, mạch máu. Hệ này được chia thành hai hệ là giao cảm và phó giao cảm, hai hệ này có chức năng đối ngược nhau trong điều hòa các hoạt động của cơ thể

Đặc điểm giải phẫu

Trung tâm của hệ thần kinh thực vật

Hệ giao cảm :

Nằm ở chất xám sừng bên của tủy sống, từ đốt sống cổ thứ VII tới đốt sống thắt lưng III. Từ đây, các sợi thần kinh giao cảm đi tới khắp các cơ qua trong cơ thể, điều hào hoạt động của các cơ quan này.

Hệ phó giao cảm:

Nằm ở não giữa, hành tủy và não cùng.

Từ não giữa và hành não: các dây thần kinh phó giao cảm sẽ chi phối hoạt động của các cơ quan vùng đầu, ngực và ổ bụng

Từ tủy cùng : các sợi phó gaio cảm chi phối hoạt động của các cơ quan hố chậu như bàng quang, phần thấp của niệu quản, đại tràng xuống, trực tràng và cơ quan sinh dục ngoài.

Các sợi và synap thần kinh thực vật:

Các sợi này thường được cấu tạo bởi 2 neuron, neuron từ trung tâm đến hạch gọi là sợi trước hạch, neuron từ hạch đến cơ quan đáp ứng gọi là sợi sau hạch.

Hệ giao cảm: sợi trước hạch ngắn, sợi sau hạch dài

Hệ phó giao cảm: sợi trước hạch dài, sợi sau hạch ngắn

Synap của hệ thần kinh thực vật là những khớp nối giữa hai neuron hoặc giữa neuron với cơ quan đáp ứng.

Chất dẫn truyền thần kinh

Chất dẫn truyền thần kinh( chất trung gian hóa học) là những chất hóa học đóng vai trò trung gian dẫn truyền thần kinh qua khe synap. Chất dẫn truyền thần kinh được tổng hợp ngay tại tế bào thần kinh , sau đó được lưu giữ dưới dạng phức hợp trong các hạt đặc biệt ở ngọn sợi thần kinh để tránh bị phân hủy.

Hệ phó giao cảm:

Chất dẫn truyền thần kinh là acetylcholine, có ở ngọn sợi trước hạch phó giao cảm, ngọn sợi sau hạch phó giao cảm và ngọn sợi trước hạch giao cảm.

 

Hệ giao cảm:

Chất trung gian hóa học là cathecholamin ( adrenalin, noradrenalin hoặc dopamine) có ở ngọn sợi sau hạch giao cảm.

Các hệ phản ứng của hệ thần kinh thực vật

Hệ cholinergic

Hệ thống các thụ thể có phản ứng đặc hiệu với acetylcholine gọi là hệ phản ứng với acetylcholine hay hệ cholinergic.

Hệ này chủ yếu có ở: màng sau synap hạch giao cảm, hạch phó giao cảm, màng sau synap của sợi sau hạch phó giao cảm và màng sau synap – thần kinh cơ.

Hệ này được chia làm 2 hệ nhỏ là hệ muscarin ( hệ M ) và hệ nicotin ( hệ N )

Hệ muscarin : là hệ ngoài phản ứng với acetylcholine còn bị kích thích bởi muscarin và bị phong bế bởi atropine. Hệ này có ở màng sau synap sợi sau hạch phó giao cảm và tuyến mồi hôi. Có 5 receptor của hệ : M1, M2, M3,M4,M5. Khi kích thích hệ này gây co cơ trơn khí phế quản, tiêu hóa, tiết niệu, tăng tiết dịch, giãn cơ trơn mạch máu, ức chế tim và hạ huyết áp.

Hệ nicotinic: là hệ ngoài phản ứng với acetylcholine còn bị kích thích bởi nicotin liều thấp và bị phong bế bởi nicotin liều cao. Hệ này có ở các hạch giao cảm, phó giao cảm, bản vận động cơ xương và tuyến tủy thượng thận. Khi kích thích hệ này gây co cơ vẫn, kích thích tim, co mạch, tăng huyết áp, giãn đồng tử.

Hệ adrenergic

Là hệ thống các thụ thể có chung đặc tính phản ứng đặc hiệu với adrenalin hoặc noradrenalin được gọi là hệ phản ứng với adrenalin hay hệ adrenergic

Hệ này chủ yếu ở màng sau synap sợi sau hạch giao cảm, được chia thành hai hệ nhỏ là hệ α – adrenergic và β – adrenergic.

Hệ α – adrenergic có receptor α1 và α2 : khi kích thích receptor α1 gây co cơ trơn mạch máu và tăng huyết áp, co cơ tia mống mắt làm giãn đồng tử, co cơ trơn tiết niệu. Kích thích receptor α2 làm giảm renin gây giãn mạch, hạ huyết áp, tăng kết dính tiểu cầu. Ở ngoại vi, receptor α1 chiếm ưu thế nên khi kích thích hệ α – adrenergic ngoại vi thường gây co mạch và tăng huyết áp.

Hệ β – adrenergic có 3 loại receptor là β1, β2, β3. Khi kích thích hệ β gây kích thích tim, tăng co bóp cơ tim, giãn các cơ trơn, tăng chuyển hóa.

Hệ dopaminergic :

Hệ này có nhiều ở cơ trơn mạch máu thận, nội tạng và thần kinh trung ương, có 5 loại receptor nhưng quan trọng nhất là D1, D2. Ở ngoại vi, receptor D1 chiếm ưu thế hơn D2, ở trung ương thì ngược lại. D1 có chủ yếu ở cơ trơn mạch thận, do đó, khi kích thích hệ dopaminergic ngoại vi gây giãn cơ trơn mạch thận.

Copy ghi nguồn TrungTamThuoc.com

Link bài viết: giới thiệu về đặc điểm giải phẫu, chức năng của hệ thần kinh thực vật

 

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa : , ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

Glycopyrronium được FDA US phê chuẩn trong điều trị tăng tiết mồ hôi Glycopyrronium được FDA US phê chuẩn trong điều trị tăng tiết mồ hôi

cơ quan fda us đã phê chuẩn glycopyrronium (qbrexza, dermira) để điều trị cho những người mắc chứng tiết quá nhiều mồ hôi ở  vùng dưới cánh tay

Nhu cầu Vitamin D đối với cơ thể Nhu cầu Vitamin D đối với cơ thể

vitamin d (calciferol) gồm một nhóm seco-sterol tan trong chất béo, được tìm thấy rất ít  trong thức ăn tự nhiên. vitamin d được quang hợp  trong da của động vật có xương sống nhờ tác động bức xạ b của tia tử ngoại. vitamin d có thể có nhiều cấu trúc, tuy nhiên  có 2 cấu trúc sinh lý chính.

Vitamin A tin tức tại Blog Thông tin y học Vitamin A tin tức tại Blog Thông tin y học

“vitamin a” là thuật ngữ dùng để chỉ  chất mang hoạt tính sinh học của retinol. thuật ngữ “retinoids” bao gồm vitamin a dạng tự nhiên và chất tổng hợp  tương tự như retinol, có hoặc không có hoạt tính sinh học. vitamin a là loại tan trong dầu.vitamin a có tác dụng bảo vệ mắt.

Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh loãng xương Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh loãng xương

loãng xương là một tình trạng của xương dễ bị tổn thương với sự gia tăng nguy cơ gãy xương. mật độ xương  giảm nhanh hơn ở phụ nữ sau mãn kinh.


Giỏ hàng: 0