ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

Giải phẫu Gan và một vài chức năng quan trọng của gan


Vị trí và đặc điểm cấu tạo nhiều bất ngờ của gan có thể bạn chưa biết :

Gan là tạng lớn nhất trong cơ thể nằm trong ổ bụng,là cơ quan vừa có chức năng nội tiết vừa có chức năng ngoại tiết, là kho dự trữ của nhiều chất đồng thời là trung tâm của nhiều chuyển hóa quan trọng của cơ thể và có tính chất sinh mạng.

Gan nằm ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang, trong ô hoành phải nhưng lấn sang ô hoàng trái và ô thượng vị. Bờ dưới gan chạy dọc bờ sườn phải, vì vậy người lớn không sờ thấy gan. Khi gan to có thể sờ thấy bờ này ở thành bụng trước, dưới bờ sườn phải.

Gan có màu đỏ nâu, trơn bóng. Mật độ hơi chắc, nhưng dễ bị nghiền nát và dễ bị vỡ. Gan được tạo nên bởi những tế bào gan, mạch máu và đường mật trong gan. Các  tế bào gan sắp xếp thành nhiều bè tạo nên các tiểu thùy gan. Xen vào giữa các tết bào gan ở lưới là những ống dẫn mật nhỏ và lưới mao mạch dẫn máu từ tiểu thùy về tĩnh mạch trung tâm.

Máu tĩnh mạch từ ruột mang theo sản phẩm tiêu hóa đều chảy qua hệ lưới mao mạch của gan, sau khi các chất trao đổi với tế bào gan sau đó theo mao mạch đổ về tâm nhĩ phải.

  • Một số chức năng quan trọng của gan:

Chức năng chuyển hóa : chuyển hóa glucid, lipid,protid

Chức năng chống độc : ngăn chặn các chất độc xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, đồng thời làm giảm độc tính và thải trừ một số chất cặn bã do chuyển hóa của cơ thể tạo nên.

Chức năng tạo mật.

Chức năng dự trữ : ngoài dự trữ glucid , protein , gan còn dự trữ nhiều chất khác

Sản xuất các yếu tố đông máu, chống đông máu, tạo máu.

Cùng tìm hiểu xem Gan chuyển hóa, dự trữ và thải độc cho cơ thể  như thế nào nhé.

Chức năng chuyển hóa : 

Mặc dù sự chuyển hóa các chất cơ bản như glucid, protid, lipid diễn ra ở nhiều cơ quan nhưng xảy ra mạnh mẽ ở gan

Chuyển hóa glucid :

Glucid trong cơ thể là chất cung cấp năng lượng chính cho toàn bộ cơ thể.

Thức ăn chứa tinh bột, đường, sau khi vào đường tiêu hóa sẽ bị các enzym thủy phân thành các đường đơn đường đôi như glucose,fructose được hấp thu vào hệ mao mạch máu rồi về tập trung ở gan. Ở gan, chúng được sử dụng ngay hoặc tích trữ dạng glycogen. (glucose là chất gan sử dụng được, còn galactose và fructose sẽ được chuyển hóa tạo thành glucose )

Việc tổng hợp hay thoái hóa glycogen tại gan có ý nghĩa quan trọng trong điều hòa lượng đường máu. Khi lượng đường máu tăng cao, gan tổng hợp tạo glycogen tích trữ và giảm giải phóng glucose. Ngược lại, khi lượng đường máu giảm thì gan sẽ tăng phân giải glycogen và sinh đường mới để tăng giải phóng glucose vào máu.

Chuyển hóa lipid :

Lipid từ thức ăn tới ruột non, nhờ sự có mặt của muối mật được thủy phân thành glycerol, acid béo, cholesteron, môn, diglycerid. Sau khi được hấp thu, các chất này cùng với protein được vận chuyển về kho dự trữ mỡ và một phần về gan. Lượng mỡ dự trữ ở gan chỉ là tạm thời , chúng luôn được đổi mới , huy động vào máu về gan chủ yếu dưới dạng acid béo, triglycerid và cholesterol.

Trung tâm chuyển hóa của lipid ở tế bào gan là acid béo. Các quá trình chuyển hóa chủ yếu là

Tổng hợp acid béo : qua trình này xảy ra ở khắp tế bào nhưng mạnh mẽ nhất ở tế bào gan. Tổng hợp acid béo dẫn đến tổng hợp triglycerid và phospholipid, một phần tham gia vào hoạt động chức năng của gan một phần bài tiết vào máu trong thành phần các lipoprotein huyết tương. Khi tổng hợp protein bị giảm ở gan, sự vận chuyển các triglycerid và phospholipid ra khỏi gan không được thực hiện dẫn đến tình trạng “gan nhiễm mỡ”. chất cholin cũng có vai trò lớn trong việc bài tiết lipid ra khỏi gan , vì vậy khi thiếu cholin cũng gây “gan nhiễ mỡ”.

Oxy hóa acid béo trong gan : sản phẩm của quá trinhg nà là acetyl-CoA, phần lớn chúng đi vào chu trình Krebs cun cấp năng lượng cho tế bào. Tham gia tổng hợp các acid béo,acid mật , cholesterol, steroid, tiền vitamin D. Một số ngưng tụ thành thể ceton rồi bài tiết vào máu bị đào thải qua thận. trong bệnh đái tháo đường do tụy, cơ thể không sử dụng được glucose, dẫn đến thiếu acid pyruvic, acetyl-CoA không tham gia hết vào chu trình Krebs sẽ biến thành thể cetonic dẫn tới tình trạng nhiễm toan.

Chuyển hóa cholesterol ở gan : tổng hợp cholesterol ở gan cơ bản diễn ra theo phản ứng chuyển acetat thành acid mevalonic rồi biến thành squalen rồi thành cholesterol. Khi ăn nhiều cholesterol thì quá trình tổng hợp này thuyên giảm còn khi không có mật xuống tá tràng thì quá trình này tăng lên ở gan và ruột. Sự phân hủy cholesterol ở gan tạo nên các sản phẩm chủ yếu là acid mật, muối mật, các dẫn chất steroid và tiền vitamin D.

Chuyển hóa protid:  gan là trung tâm cuyển hóa quan trọng đồng thời cũng là một kho dự trữ quan trọng nhất của cơ thể. Protein dự trữ ở gan dưới dạng nhiều protein enzym và một số protein chức năng. Các protein này khi phân giải sẽ tạo thành các acid amin đưa vào máu cung cấp cho các tết bào khác trong cơ thể. Trung tâm chuyển hóa protein ở gan là các acid amin. Gan người có thể tổng hợp được 80-100g protein trong vòng 24h, trong đó gần 50% do gan tổng hợp. Do vậy gan có khả năng tái sinh rất mạnh. Gan tổng hợp phần lớn những các protein huyết tương như fibrinogen,albumin, một phần globulin và một số protein tham gia phản ứng gây đông máu như các yếu tố đông máu II, Vii, IX, X, một số enzym như amylase, cholinesterase. Do vậy, khi chức năng gan bị suy giảm, hàm lượng các protein này giảm gây ra các rối loạn cân bằng protein huyết tương , rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng, rối loạn cơ chế đông máu,..

Chức năng chống độc

Gan được xem như là môt barier của cơ thể có tác dụng ngăn chặn các chất độc xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, đồng thời gan làm giảm độc tính và thải trừ một số chất cặn bã do chuyển hóa chất trong cơ thể tạo nên. Gan thực hiện chức năng chống độc theo hai cách :

  •  Bằng các phản ứng hóa học : đây là cơ chế chủ yếu để biến các chất độc thành các chất không độc hoặc ít độc hơn rồi đào thải qua đường thận. Các phản ứng hóa học gồm :

Phản ứng tạo ure: phản ứng tạo ure tử NH3, là một chất độc cho cơ thể, NH3 có nguồn gốc từ quá trình khử amin và từ ống tiêu hóa về. Trong quá trình vận chuyển NH3 thì acid gluctamic đóng vai trò rất quan trọng, acid này gắn với amonisc tạo nên glutamin không độc có thể vận chuyển đến gan tạo ure hoặc tới thận tạo ClNH4 và đào thải ra ngoài. NH3 về gan,phần lớn được biến thành ure nhờ xúc tác của men đặc hiệu chỉ có ở gan.

Phản ứng liên hợp, có nhiều loại như liên hợp glucuro, phản ứng liên hợp sulfat, liên hợp với glycocol, liên hợp metyl..

Phản ứng oxy hóa khử: oxy hóa chức alcol, andehyd, ceton, hydratcacbon no và thơm, sau đó đưa vào phản ứng liên hợp sulfo hoặc glucuro.

  • Bằng cách cố định và thải trừ một số chất kim loại nặng, các chất màu đến gan sẽ bị giữ lại không bị biến đổi gì và đào thải ra ngoài đường mật.

Chức năng dự trữ :

Ngoài dự trữ glucid, protein, gan còn là kho dự trữ cả nhiều chất dinh dưỡng khác.

Dự trữ các vitamin tan trong dầu: gan vừa có tác dụng làm tăng hấp thu các vitamin tan trong dầu nhờ dịch mật do nó bài tiết, vừa là nơi dự trữ của các vitamin ấy.

Dự trữ vitamin A: 80% vitamin A của cơ thể được dự trữ tại gan dưới dạng ester của retinol với acid panmitic. Khi nồng độ vitamin A trong máu giảm thấp hơn bình thường, hợp chất trên phân giải và giải phóng vitain A vào máu. Lượng dự trữ vitamin B12 ở gan rất lớn, có thể đủ dùng cho cơ thể trong khoảng 2 năm trong điều kiện bình thường.

Dự trữ vitamin D: vitamin D dự trữ ở gan dưới dạng ergocalciferol hấp thu từ ống tiêu hóa hay dưới dạng cholecalciferol tổng hợp từ da.

Dự trữ vitamin E ở gan chủ yếu ở các ty lạp thể của tế bào gan

Dự trữ vitamin K trong gan không đáng kể.

Dự trữ vitamin B12 : vitamin B12 sau khi được hấp thu sẽ được vận chuyển về gan và dự trữ ở đó rồi được giải phóng dần cho cơ thể sử dụng.

Dự trữ sắt : sau khi được hấp thu từ ruột non vào máu, sắt được vận chuyển về gan và được dự trữ dưới dạng liện kết với apoferritin là một loại protein của gan để tạo ferritin. Từ gan, sắt được vận chuyển dần tới tủy xương, tham gia quá trình tạo hồng cầu.

Dự trữ máu : gan là cơ quan nhận được nhiều máu nhất trong cơ thể. Trong mỗi phút, gan nhận khoảng 1500ml máu từ tĩnh mạch cửa và động mạch gan mang tới. Do đặc điểm cấu tạo của gan, các tế bào nội mạc nan hoa dễ giãn và giãn hơn bình thường và sẽ chứa được nhiều máu hơn ở các mạch khác trong cơ thể.

Ngoài dự trữ máu, từ tháng thứ 3 đến cuối của thời kỳ thai nghén, gan còn là cơ quan chính sản xuất hồng cầu của bào thai. Sau khi đứa trẻ ra đời tủy xương đảm nhận chức năng sản xuất hồng cầu cho cơ thể. Gan cũng là nơi tổng hợp các yếu tố đông máu và chống đông máu: một số yếu tố đông máu được gan tổng hợp như fibrinogen ( yếu tố I ), prothrombin ( yếu tố II ), proaccelerin ( yếu tố V ), antihemophylie A (yếu tố VIII ), christmas ( yếu tố IX). Hay một lượng lớn chất chống đông máu rất mạnh như heparin cũng được sản xuất tại gan

Đánh giá tin tức

Điểm




Cách tính ngày rụng trứng chính xác 100%, tính ngày tránh thai hoặc ngày sinh con Cách tính ngày rụng trứng chính xác 100%, tính ngày tránh thai hoặc ngày sinh con

cách tính ngày của trứng rụng chính xác đảm bảo 100% đúng, tính ngày trứng rụng để biết cách tránh thai, tính ngày trứng rụng ở phụ nữ để biết ngày sinh con. tin tức blog bệnh học: tính ngày rụng trứng

Bảo vệ bản thân và gia đình bạn tránh bị muỗi cắn Bảo vệ bản thân và gia đình bạn tránh bị muỗi cắn

chống muỗi đốt bằng sử dụng thuốc chống côn trùng, chống muỗi đốt thêm cho con của bạn, chống muỗi đốt bằng cách mặc áo sơ mi dài tay và quần dài. tin tức blog bệnh học: bảo vệ bản thân và gia đình bạn tránh bị muỗi cắn

Giãn tĩnh mạch: Tổng quan, triệu chứng, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ Giãn tĩnh mạch: Tổng quan, triệu chứng, nguyên nhân và yếu tố nguy cơ

giãn tĩnh mạch (hay còn gọi là bệnh suy giãn tĩnh mạch chi dưới mạn tính) là các tĩnh mạch phình ra nổi lên gần bề mặt da, chủ yếu là giãn tĩnh mạch chân

Các triệu chứng lâm sàng và điều trị bệnh động kinh Các triệu chứng lâm sàng và điều trị bệnh động kinh

động kinh là sự rối loạn từng cơn chức năng của thần kinh trung ương do sự phóng điện đột ngột, quá mức, đồng thời của các neuron. thuốc chống động kinh là những thuốc có khả năng loại trừ hoặc làm giảm tần số, mức độ trầm trọng của cơn động kinh và các triệu chứng tâm thần kèm theo cơn động kinh


Giỏ hàng: 0