ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

Bệnh Parkinson: nguyên nhân, triệu chứng và điều trị


 

 1. Bệnh parkinson là gì?

Bệnh Parkinson là một rối loạn thần kinh mạn tính, tiến triển chậm, do thoái hóa tế bào thần kinh ở chất đen gây thiếu hụt dopamin, làm mất cân bằng trong hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh, đưa đến rối loạn chức năng vận động.

Tỷ lệ mắc bệnh chung của bệnh Parkinson là 1-2/1000 người, nhưng ở người già tỷ lệ này cao gấp 5-10 lần so với tỷ lệ mắc bệnh chung. Tuổi khởi phát bệnh trung bình là 60 tuổi, bệnh có xu hướng nặng dần theo thời gian và dẫn đến tàn phế. Tỷ lệ mắc giữa nam và nữ tương đương, không có sự khác biệt về chủng tộc cũng như đặc điểm xã hội.

2. Nguyên nhân gây bệnh Parkinson

Trong bệnh Parkin son có sự thoái hóa thần kinh tiến triển, phá hủy các tế bào dopamin sắc tố, dẫn đến giảm sút lượng dopamin trong não. Mặc dù vậy, nguyên nhân của bệnh Parkinson chưa được biết đầy đủ. Sau đây là một số nguyên nhân gây bệnh Parkinson đã biết:

  • Sau viêm não: viêm não von Economo, viêm não virus nhóm B
  • Teo hệ nhân xám của hệ thần kinh trung ương
  • Chấn thương sọ não và tổnthuwongchoans chỗ ở não
  • Tiếp xúc trong thời gian dài với một số chất độc (bụi mangan, carbon disulfit) và ngộ độc carbon monoxyt
  • Dùng thuốc kích thích MPTP (1-methyl-4-phenyl-1,2,3,4,6-tetrahydropyridin) với mục địch giải trí. Chất này khi vào cơ thể sẽ bị thủy phân tạo thành chất có tác dụng phá hủy chọn lọc các tế bào thần kinh của hệ tiết dopamin ở liềm đen.
  • Dùng các thuốc an thần kinh liều cao kéo dài có thể gây ra hội chứng Parkinson có hồi phục sau khi ngừng thuốc: một số thuốc họ phenothiazin (chlopromazin, fluphenazin); reserpin, metochlopramid, amitryptilin và các thuốc chống trầm cảm ba vòng khác...

Ngoài các nguyên nhân kể trên người ta cũng đề cập đến các vẫn đề sau:

  • Giả thuyết về quá trình lão hóa: bệnh Parkinson chỉ xảy ra ở người già chủ yếu sau 60 tuổi.
  • Vai trò của yếu tố di truyền: >10% bệnh nhân parkinson có tiền sử gia đình
  • Sự chết cûa các neuron tiết dopamin: vai trò của các gốc tự do và sự chết có chương trình của các tế bào thần kinh

3. Bệnh sinh của bệnh Parkinson

Các chất dẫn truyền thần kinh có tác dụng kích thích và ức chế bao gồm dopamin (dopamin được sản sinh ra từ các cấu trúc trong bạch nền và hệ ngoại tháp), acetycholin, GABA và glutamat. Khi các chất này lưu hành trong máu giúp điều chỉnh vạn động hữu ý, trương lực cơ lúc nghỉ và tư thế

Bình thường, có sự cân bằng giữa tác động kích thích của acetylcholin và tác động ức chế của dopamin trong hệ thần kinh trung ương. Trong bệnh Parkinson do thoái hóa hệ thống tiết dopamin ở đường liềm den – thể vân nên có sự suy giảm lượng dopamin (nhưng lượng acetylcholin không biến đổi), từ đó sẽ dẫn tới mất cân bằng giữa kích thích và ức chế trong hệ thần kinh trung ương.

Hội chứng ngoại tháp là tập hợp các rối loạn về vận động và trương lực cơ đặc trưng do sự mất cân bằng giữa kích thích và ức chế lên hạch nền và hệ ngoại tháp. Bệnh Parkinson là thể thường gặp nhất của hội chứng ngoại tháp, ngoài ra còn nhỉu bệnh lý và tổn thương não khác có thể gây ra hội chứng ngoại tháp.

4. Triệu chứng bệnh Parkinson

4.1. Triệu chứng lâm sàng

Bốn triệu chứng điển hình cuả bệnh Parkinson là: run khi nghỉ, tăng trương lực cơ, giảm động tác và cuối cùng là bất thường về dáng đi và tư thế. Các triệu chứng này có thể đơn độc hoặc phối hợp.

  • Run: là những dộng tác bất thường, không hữu ý. Run thường thấy rõ ở đầu ngón tay, bàn tay, bàn chân, có thể ở mặt (môi, lưỡi, hàm dưới và cằm). Run tăng khi nghỉ và xúc động, nhưng khi bệnh nhân làm động tác hữu ý thì run giảm đi hoặc không run.

  • Tăng trương lực cơ quá mức, thường thấy ở các cơ chống đối với trọng lực, do đó bệnh nhân thường ở tư thế nửa gấp. Sờ nắn bắp co thấy cứng và căng, mức độ co duỗi của bắp cơ giảm. Giảm vung vẩy tay khi đi lại
  • Bất động (Giảm động tác): biểu hiện là các động tác chủ động và tự động đều giảm, khởi đầu chậm chạp, bất thường, giảm tốc độ thực hiện các động tác, làm các động tác trở nên nghèo nàn. Người bệnh thực hiện các  động tác nhanh chóng bị mệt và nhiều khi dừng lại ngaykhi đang cử động. Vẻ mặt bất động như mặt nạ, ít biểu lộ cảm xúc, ít nháy mắt, cử động môi lưỡi chậm, ít nuốt, lời nói chậm chạp, mất âm điệu. Khi viết khởi đầu chậm chạp, ngập ngừng, chữ viết ngày càng nhỏ đi
  • Bất thường về dáng đi và tư thế: tư thế điển hình của người bệnh Parkinson là tư thế gấp. Lúc đầu gấp ở khuỷu tay, giai đoạn sau thì đầu và thân chúi ra trước, chi trên gấp và khép. Người bệnh như bị đông cứng trong tư thê này khi hoạt động.

Khi bắt đầu đi bộ, hai chân như dán trên mặt đất, bước đi ngắn chậm, chúi người ra phía trước, trong khi đi người bệnh di chuyển thành một khối, không mềm mại, sau đó người bệnh đi bước nhỏ kéo lê nhanh và không thể ngừng lại ngay hay xoay về một bên theo ý muốn, có xu hướng tăng dần tốc độ như chạy để để phòng ngã.

Ngoài ra bệnh có thể có những triệu chứng khác như: cảm thấy đau đớn linh tinh, không chịu được nóng bức, ra nhiều mồ hôi, tăng tiết bã nhờn, hay chảy nước dãi, táo bón, phù, tím tái đầu chi. Có thể có rố loạn cảm xúc như biểu hiện trầm cảm.

Các chức năng trí tuệ vẫn tốt và không có biểu hiện sa sút trí tuệ, nhưng hoạt động tâm trí thường chậm chạp

4.2. Các xét nghiệm thăm dò

Trong bệnh Parkinson, các phương pháp thăm dò như chụp cắt lớp vi tính sọ não, chụp cộng hưởng từ hạt nhân não cho thấy các dấu hiêu không đặc trưng như: teo não lan tỏa, có một vài nốt calci hóa, các não thất giãn nhẹ.

4.3. Tiến triển của bệnh

Parkinson có thời gian ủ bệnh âm thầm, tiến triển chậm, không có dấu hiệu đặc hiệu. Khi các triệu chứng lâm sàng xuất hiện thì >80% dopamin trong não đã bị mất đi.

Tiến triển của bệnh Parkinson có thể được chia thành 5 giai đoạn:

  • Giai đoạn tiền triệu (không triệu chứng): có thể kéo dài tới 5 năm
  • Giai đoạn triệu chứng sớm: các rối loạn nhỏ, có thể không cần dùng thuốc
  • Giai đoạn điều trị chủ yếu (5-7 năm): dùng levodopa có tác dụng tốt
  • Giai đoạn muộn: hiệu quả levodopa giảm sút
  • Giai đoạn cuối cùng: bệnh vô cùng khó kiểm soát

Tiến triển của bệnh Parkinson rất đa dạng và khó xác định rằng: liệu việc điều trị có làm chậm tiến triển của bệnh hay không. Khi có các biểu hiện: rối loạn vận động kháng thuốc, suy giảm trí tuệ, mất trí tuệ và các rối loạn tâm thàn khác là dấu hiệu bệnh tiến triển nặng lên.

Nếu không dược điều trị, thời gian sống sô]ót khoảng 10 năm kể từ khi xuất hiện triệu chứng, bệnh nhân có tỷ lệ chết cao gấp 3 lần so với người bình thường. Điều trị tối ưu bằng thuốc làm tăng gấp đôi thời gian sống sót trung bình và tuổi thọ dự tính hiện nay tiến gần tới mức bình thường.

5. Điều trị bệnh Parkinson

5.1. Nguyên tắc điều trị

Bệnh Parkinson được điều trị dựa trên ba nguyên tắc sau:

  • Làm giảm triệu chứng bằng thuốc và chế độ dinh dưỡng
  • Phòng ngừa biêns chứng xa
  • Phục hồi chức năng

5.2. Các biện pháp điều trị cụ thể

  • Điều trị nội khoa bằng thuốc
  • Phẫu thuật: cắt bỏ đồi thị hoặc cắt bỏ nhân đậu với những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa. Hiện nay còn đang thử nghiệm phương pháp cấy tủy thượng thận hoặc mô liềm đen bào thaivµo nhân đuôi ở não. Kinh nghiệm cho thấy chữa bệnh bằng phấu thuật có tỉ lệ thành công cao hơn ở những người chưa đến 60 tuổi.
  • Phục hồi chức năng: liệu pháp vận động, vật lý, xoa bóp, tâm lý... cần được tiến hành đồng thời với điều trị nội khoa hay phẫu thuật
  • Dinh dưỡng: bệnh nhân Parkinson hay bị táo bón do triệu chứng bệnh hoặc do điều trị bằng thuốc kháng cholin hay levodopa. Do đó cần ăn đủ dinh dưỡng, giàu chất xơ và uống nhiều nước

5.3. Điều trị bằng thuốc

Các thuốc điều trị Parkinson có tác dụng làm giảm triệu chứng, giúp cho bệnh nhân duy trì được mức độ chủ động, ít bị phụ thuộc trong cuộc sống. Gồm các loại thuốc giúp thay thế dopamin ở não, tuy nhiên chưa có thuốc đặc trị cho bệnh parkinson.

Các thuốc được sử dụng phổ biến:

  • Levodopa: là dạng tiền thân của dopamin, có khả năng thâm nhập vào não rồi chuyển hóa thành dopamin, do đó phục hồi mức dopamin bị suy giảm ở các nhân xám. Các thuốc chứa hoạt chất levodopa: stalevo, madopar HBS 125mg, madopar Tab.250mg,
  • Các chất đồng vận dopamin (bromocriptin, pergolid, pramipexol, piribesdil...) tác dụng kích thích trực tiếp các thụ thể dopamin ở sau synap tại thể vân
  • Amantadin: chỉ định cho những bệnh nhân nhẹ, cơ chế tác dụng chưa rõ
  • Selegillin: thuốc ức chế men monoamin oxidase B, làm ngăn ngừa sự phânhuyycuar các dopamin nội sinh và ngoại sinh ở trung ương
  • Các thuốc kháng cholin (trihexyphenidyl, procyclidin, cicrimin, triperidin): tác dụng loại trừ hoạt động quá mức của cholin ở não, làm giảm triệu chứng run và cứng hơn là giảm triệu chứng vẫn động chậm.
  • Các thuốc bổ trợ giúp tăng cường tuần hoàn não, dinh dưỡng thần kinh giúp cải thiện tình trạng bệnh: bilomag, strocit 500mg, cavinton 5mg, kungcef 500mg, neurogesic 300mg, neuceris...

5.4. Người bệnh Parkinson có thể giúp mình bằng cách nào?

Không chỉ cần sự hỗ trợ của thuốc, mà bệnh nhân parkinson cũng có thể tự giúp mình có cuộc sống thoải mái hơn bằng cách:

  • Thảo luận với bác sĩ để để càng hiểu thêm về vẫn đề dùng thuốc men chừng nào càng tốt chừng ấy. Hiểu khi nào thuốc hoạt động hữu hiệu nhất sẽ dễ dàng sắp xếp các sinh hoạt tốt hơn.
  • Học các phương pháp làm giảm những căng thẳng tinh thần (ví dụ tĩnh tâm bằng ngồi thiền) hoặc các biện pháp giúp cho tinh thần  và thể chất được thoải mái khác
  • Tập thể dục thường xuyên và tăng vận động
  • Giải thích cho gia đình và bạn bè hiểu về bệnh Parkinson ảnh hưởng đến mình như thế nào để mọi người hỗ trợ trong quá trình điều trị.
  • Ăn nhiều thực phẩm có chất xơ và uống dủ lượng chất lỏng có thể giúp ngăn ngừa táo bón, điều này phổ biến trong bệnh Parkinson. Một chế độ ăn uống cân bằng cũng cung cấp các chất dinh dưỡng, chẳng hạn như axit béo omega-3...

Copy ghi nguồn: TrungTamThuoc.com

Link bài viết: Bệnh Parkinson: nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

                                                                                                                 

Tài liệu tham khảo:

1. Sách Bệnh học - Trường đại học Dược Hà Nội

2. Bệnh học nội khoa -  Trường đại học Y Hà Nội

3. Parkinson's disease

 

 

 

 

 

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa : , , ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

Bệnh lupus ban đỏ hệ thống: những điều cần biết Bệnh lupus ban đỏ hệ thống: những điều cần biết

lupus là một bệnh tự miễn mãn tính trong đó hệ thống miễn dịch sản xuất kháng thể, kháng thể sản xuất ra tấn công các tế bào trong cơ thể dẫn đến viêm lan rộng và phá hoại mô. triệu chứng bệnh khởi phát: đau khớp hoặc viêm khớp với biểu hiện tương tự trong bệnh viêm khớp dạng thấp.

Mỹ nghiên cứu thành công vaccin giúp điều trị ung thư. Mỹ nghiên cứu thành công vaccin giúp điều trị ung thư.

theo nghiên cứu mới nhất đến từ đại học stanford mỹ, vaccin chống ung thư mới này đang có nhiều hứa hẹn khi điều trị thành công 97% chuột bị khối u, và vaccin này chắc chắn sẽ được thử nghiệm trên người trong một đến hai năm tới.

VAI TRÒ VÀ NHU CẦU CANXI ĐỐI VỚI CƠ THỂ VAI TRÒ VÀ NHU CẦU CANXI ĐỐI VỚI CƠ THỂ

calci giúp cơ thể hình thành hệ xương và răng vững chắc, đảm bảo chức phận thần kinh và sự đông máu bình thường. tất cả các quá trình chuyển hoá trong cơ thể đều cần calci, vì vậy  nồng độ calci trong cơ thể được duy trì không thay đổi bằng cơ chế cân bằng (homeostatic).

Đã có thuốc tránh thai dành cho nam giới đạt hiệu quả cao Đã có thuốc tránh thai dành cho nam giới đạt hiệu quả cao

thuốc 11-beta-mntdc là một thuốc tránh thai dành cho nam giới đã được ts wang và nhóm nghiên cứu tiến hành thử nghiệm độ an toàn trên 40 người tình nguyện


Giỏ hàng: 0