ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

404 29/03/2018 bởi Dược Sĩ Lưu Văn Hoàng

Khi có sự thay đổi trong men gan, chúng ta cần hết sức chú ý bởi đó là nguyên nhân của nhiều bệnh lý nghiêm trọng:

Viêm gan virut cấp:

Viêm gan do virut là một bệnh truyền nhiễm khá phổ biến, nhiều khi để lại hậu quả nặng trong đó có ung thư gan.

GOT, GPT huyết tương tăng nhanh, GPT tăng sớm trước khi có vàng da, mức tăng có thể tới 2000- 3000 U/l, nhưng mức độ tăng của GPT cao hơn so với GOT, tăng sớm trước khi có vàng da, ở tuần đầu vàng da (tăng kéo dài trong viêm gan mạn tiến triển).

Hoạt độ GOT, GPT tăng hơn 10 lần, điều đó cho biết tế bào nhu mô gan bị hủy hoại mạnh. GOT tăng >10 lần bình thường cho biết tế bào nhu mô gan bị tổn thương cấp tính. Nếu tăng ít hơn thì có thể xảy ra với các dạng chấn thương gan khác.

GOT, GPT tăng cao nhất ở 2 tuần đầu rồi giảm dần sau 7- 8 tuần.

GOT, GPT giảm nhanh trong vài ngày sau khi vàng da xuất hiện và trở về bình thường khoảng 2 - 5 tuần sau đó. Trong viêm gan kết hợp với nhiễm khuẩn (bạch cầu tăng), GOT và GPT tăng cao thường < 200 U/l, đạt cực đại sau 2 - 3 tuần từ lúc bệnh khởi phát và trở về bình thường ở tuần thứ 5.

GGT cũng tăng cao, nhiều khi mức tăng cao hơn cả GPT. Điều đó nói lên GGT có ý nghĩa chẩn đoán sớm trong bệnh gan, mật.

Trong viêm gan virut cấp, hoạt độ GPT > GOT > LDH.

ALP và GGT tăng ít, chúng phản ánh tình trạng ứ mật nhẹ ở gan.

CHE giảm từ  tuần thứ  2 đến tuần thứ 4.

Bilirubin tăng: ở giai đoạn vàng da cấp, bilirubin trực tiếp tăng, chiếm 50 -
70% (bình thường 25 - 30%), sau đó bilirubin gián tiếp tăng một cách tương
xứng.

Sắt huyết tương tăng.

Viêm gan do nhiễm độc:

GOT, GPT đều tăng nhưng chủ yếu tăng GPT, có thể tăng gấp 100 lần vo với bình thường. Đặc biệt tăng rất cao trong nhiễm độc rượu cấp có mê sảng, nhiễm độc tetrachlorua carbon (CCl4), morphin hoặc nhiễm độc chất độc hóa học... Mức độ của LDH cao hơn các enzym khác: LDH > GOT > GPT.

Tỷ lệ GOT/GPT > 1, với GOT tăng khoảng 7 - 8 lần so với bình thường, thường gặp ở người bị bệnh gan và viêm gan do rượu.

Viêm gan mạn, xơ gan do rượu và các nguyên nhân khác:

GOT tăng từ 2- 5 lần, GPT tăng ít hơn, mức độ tăng GOT nhiều hơn so với GPT.

Tắc mật cấp do sỏi gây tổn thương gan:

GOT, GPT có thể tăng tới 10 lần, nếu sỏi không gây tổn thương gan thì GOT, GPT không tăng.

Vàng da tắc mật thì GOT, GPT tăng nhẹ, mức độ tăng không đáng kể kết hợp với alkaline phosphatase tăng hơn 3 lần so với bình thường. GOT, GPT tăng chậm đều đến rất cao (có thể hơn 2000 U/l), sau đó giảm đột ngột trong vòng 12 - 72h thì được coi như là một tắc nghẽn đường dẫn mật cấp tính.

GOT còn tăng trong nhồi máu cơ tim cấp và trong các bệnh về cơ, nhưng GPT bình thường.

GPT đặc hiệu hơn trong các bệnh gan.

GOT tăng rất cao, có thể tới 1000 U/l, sau giảm dần đến 50% trong vòng 3 ngày, giảm xuống dưới 100 U/l trong vòng 1 tuần gợi ý sốc gan với hoại tử tế bào nhu mô gan. Ví dụ: xơ gan, loạn nhịp, nhiễm khuẩn huyết.

Ngoài ra GOT, GPT tăng nhẹ còn gặp trong một số trường hợp có điều trị như dùng thuốc tránh thai, thuốc chống đông máu.

Bệnh lý gặp khi tăng bilirubin:

Xét nghiệm bilirubin toàn phần , bilirubin trực tiếp có ý nghĩa chẩn đoán phân biệt một số bệnh vàng da. Bilirubin toàn phần tăng hơn 2 lần so với bình thường (> 42,75 µmol/l) gây nên vàng da trên lâm sàng.

Vàng da do tắc mật:

Alkaline phosphatase huyết tương là tiêu chuẩn tốt nhất để đánh giá tắc mật. Nếu nó tăng hơn 5 lần bình thường thì hướng tới tắc nghẽn đường dẫn mật.

Bilirubin trực tiếp tăng rất cao trong máu, bilirubin toàn phần  cũng tăng, có bilirubin niệu.

Vàng da do tắc mật gặp trong tắc đường dẫn mật do sỏi, u đầu tụy, giun chui ống mật. Trong tắc đường mật ngoài gan, bilirubin có thể tăng dần đến tới mức 513 - 684µmol/l (30 - 40 mg/dl).

Tăng bilirubin huyết thanh và alkaline phosphatase (ALP) có thể gặp trong tan máu. Ngược lại, bilirubin huyết tương bình thường nhưng tăng ALP gợi ý tắc nghẽn đường mật trong gan, hay bệnh chuyển hóa hoặc bệnh gan thâm nhiễm. Rối loạn chuyển hóa của gan gây tăng ALP huyết tương 1,5- 3 lần so với bình thường.

Vàng da do tan máu (hủy huyết):

Trong tan máu, bilirubin toàn phần  huyết tương hiếm khi tăng hơn 5 lần so với bình thường, trừ khi có kết hợp với bệnh lý của gan.

Trong lâm sàng có thể sử dụng tỷ lệ bilirubin trực tiếp/bilirubin toàn phần để chẩn đoán phân biệt:

< 20% gặp trong tình trạng huyết tán.

20 - 40% bệnh bên trong tế bào gan hơn là tắc nghẽn đường mật ngoài gan.

40 - 60% xảy ra ở cả trong và ngoài tế bào gan.

> 50% tắc nghẽn ở bên ngoài gan hơn là bệnh ở trong tế bào gan.

Bilirubin gián tiếp tăng rất cao trong máu, bilirubin toàn phần  tăng có khi tới 30-40 lần, thậm chí có thể tới 80 lần so với bình thường. Bilirubin niệu âm tính (có urobilinogen niệu).

Vàng da do tan máu gặp trong vàng da hủy huyết ở trẻ sơ sinh (vàng da sinh lý), sốt rét ác tính, rắn độc cắn (hổ mang) do nọc rắn có nồng độ enzym phospholipase A quá cao biến đổi lecithin thành lysolecithin là một chất làm giảm độ bền của màng, nhất là màng hồng cầu gây tan máu, gây các rối loạn chuyển hóa, nặng có thể tử vong.

Vàng da do tổn thương gan:

Trong viêm gan virut cấp (viêm gan truyền nhiễm điển hình) bilirubin tăng sớm và xuất hiện ở nước tiểu trước khi có  vàng da; Có urobilinogen niệu.

Do gan tổn thương làm giảm chuyển hóa bilirubin thành bilirubin LH (TT) nên bilirubin toàn phần  tăng cao trong máu nhưng bilirubin trực tiếp giảm.

Trong suy gan, xơ gan nặng bilirubin LH giảm do chức năng gan giảm, làm giảm quá trình liên hợp bilirubin với acid glucuronic tạo bilirubin liên hợp ở gan.

Trong ung thư gan bilirubin toàn phần  huyết thanh tăng rất cao có thể từ 10 đến 20 lần so với bình thường (171- 342 àmol/l).

 NH3 máu tăng cao gặp trong một số bệnh gan như:

Suy gan.

Xơ gan nặng.

Hôn mê gan.

Xét nghiệm NH3 máu động mạch chính xác hơn máu tĩnh mạch, vì nó phản ánh đúng nồng độ NH3 trong máu đưa tới các tổ chức, mô gây nhiễm độc, đặc biệt gây nhiễm độc hệ thống thần kinh (não).

Các xét nghiệm thường làm về enzym để đánh giá chức năng gan

GPT (Glutamat pyruvat transaminase)

Đánh giá tình trạng tổn thương tế bào nhu mô gan.

CHE thay đổi trong một số bệnh như:

CHE tăng cao trong một số bệnh thần kinh (như trầm uất, tâm thần phân
liệt).

Giảm mạnh trong ngộ độc cấp và mạn các chất độc thần kinh như Tabun, Sarin, Soman (chất độc hóa học quân sự )…

Nếu hoạt độ của 3 enzym GPT, GGT và CHE  bình thường thì có thể khẳng định  trên 98% không mắc bệnh gan.

Nếu có một loại enzym trong 3 enzym trên không bình thường thì làm thêm 3 xét nghiệm enzym sau: GOT, GLDH, ALP.

GOT

Đánh giá mức độ tổn thương ở ty thể tế bào nhu mô gan. Tăng cao trong viêm gan mạn tiến triển, nhiễm độc hóa chất.

GLDH (Glutamat dehydrogenase)

Nó là enzym hoạt động mạnh, xúc tác phản ứng khử amin-oxy hóa trực tiếp của acid glutamic tạo NH3 và  α-cetoglutarat.

GLDH khu trú ở ty thể của tế bào nhu mô gan.

Kết quả về hoạt độ GLDH đánh giá mức độ tổn thương nặng, hủy hoại lớn tế bào nhu mô gan.

ALP (Alkaline phosphatase)

Đánh giá mức độ ứ mật ở gan. Trong ứ mật, ALP tăng cao hơn so với bình thường.

Bình thường:

Hoạt độ ALP < 280 U/l (37OC).

Ngoài ra còn làm một số xét nghiệm khác

Bilirubin toàn phần , trực tiếp  huyết tương.

10 chỉ tiêu nước tiểu.

Định lượng amoniac, fibrinogen.

Định lượng HBsAg , anti HBV, anti HCV...

Điện di protein huyết tương, kết quả thay đổi như sau:

Albumin giảm.

α1, α2- globulin tăng trong giai đoạn đầu, sau giảm dần. . β-globulin tăng kéo dài.

γ-globulin tăng thường xuyên.

Sau 1 - 2 tuần điều trị, GOT và GPT trở về bình thường, GGT trở về bình thường chậm nhất, nhưng khi GGT trở về bình thường sẽ cho biết tế bào nhu mô gan đã ổn định - điều đó có gợi ý là xét nghiệm GGT còn có ý nghĩa tiên lượng, điều trị bệnh viêm gan virut.

Sau giai đoạn vàng da của bệnh viêm gan virut cấp, nếu điều trị tốt thì sẽ chuyển sang giai đoạn lui bệnh. Đây là giai đoạn khởi đầu cho sự hồi phục. Các biểu hiện của giai đoạn này là:

Tăng bài niệu.

Bilirubin niệu giảm dần và biến mất trong khi bilirubin huyết tương vẫn còn cao so với bình thường.

Urobilinogen nước tiểu tăng.

Bilirubin huyết tương tăng.

Nếu theo dõi và điều trị không tốt, viêm gan virut cấp dễ chuyển sang viêm gan mạn.

Viêm gan do rượu:

Tăng GGT kết hợp với MCV (thể tích trung bình hồng cầu) > 100 hoặc tăng riêng lẻ có giá trị chẩn đoán viêm gan do rượu.

GOT tăng (<300U/l), nhưng GPT bình thường hoặc tăng nhẹ. Xét nghiệm GOT, GPT có độ đặc hiệu cao hơn nhưng độ nhạy thấp hơn so với GGT. Tỷ số GOT/GPT >1 kết hợp với GOT tăng (<300U/l) cho biết có khoảng 90% bệnh nhân bị bệnh gan do rượu. Điều này phân biệt với viêm gan virut có sự tăng đồng đều GOT và GPT.

Trong viêm gan do rượu cấp, GGT thường tăng cao nhanh, mức tăng GGT > GOT. GGT thay đổi bất thường trong viêm gan do rượu, thậm chí cả ở người có tiền sử bệnh gan bình thường.

Alkaline phosphatase, bilirubin huyết tương có thể bình thường hoặc tăng nhẹ nhưng không có giá trị chẩn đoán. Tuy nhiên, nếu bilirubin tiếp tục tăng trong suốt 1 tuần điều trị thì cần xem xét lại chẩn đoán.

Viêm gan mạn

Trong viêm gan mạn có 5 - 10% nguyên nhân là do có viêm gan virut B cấp. Nhìn chung viêm gan virut B cấp có thể chia làm 3 giai đoạn:

Giai đoạn viêm gan cấp:

Thường kéo dài 1 - 6 tháng với các triệu chứng:

GOT, GPT tăng hơn 10 lần so với bình thường.

Bilirubin bình thường hoặc tăng nhẹ. + Giai đoạn viêm gan mạn:

Enzym gan tăng hơn 50% kéo dài cho đến trên 6 tháng, có thể đến 1 năm hoặc nhiều hơn. Đa số các trường hợp bệnh được điều trị không tốt sẽ dẫn đến xơ gan và suy gan.

Hoạt độ GOT, GPT tăng 2-10 lần so với mức bình thường.

Giai đoạn hồi phục:

Bệnh nhân ổn định, khoẻ mạnh và hết các triệu chứng.

GOT, GPT huyết tương giảm về bình thường hoặc giảm đến giới hạn thấp.

Viêm gan mạn ổn định:

Các enzym thường được định lượng để theo dõi viêm gan mạn là GOT, GPT, GGT và CHE. Các xét nghiệm về enzym cho biết sự diễn biến, mức độ tổn thương tế bao nhu mô gan.

GOT, GPT và GGT tăng vừa phải (vì nhu mô gan tổn thương nhẹ).

ALP, GLDH, CHE ở giá trị bình thường.

Bilirubin toàn phần  tăng nhẹ, có thể lớn hơn 17,1 àmol/l.

Nếu không uống rượu, bia và chế độ làm việc nhẹ nhàng thì bệnh có tiên lượng tốt.

Viêm gan mạn tiến triển (hoạt động):

GOT và GPT tăng nhẹ; GGT và GLDH tăng mạnh phản ánh sự tổn thương nặng tế bào nhu mô gan.

CHE và các enzym đông máu giảm.

Bilirubin máu tăng.

Nếu điều trị không tốt, viêm gan mạn tiến triển dễ chuyển thành xơ gan; tiên lượng bệnh xấu hơn.

Xơ gan

Bilirubin thường tăng, có thể tăng dài trong nhiều năm, chủ yếu là tăng bilirubin tự do (trừ trường hợp xơ gan do tắc mật thì tăng bilirubin liên hợp). Sự dao động tăng, nhiều hay ít của bilirubin phản ánh tình trạng chức năng của gan. Nồng độ bilirubin tăng cao hơn gặp ở xơ gan sau hoại tử.

Hoạt độ GOT tăng cao (≤ 300 u/l) ở 65- 75% số bệnh nhân xơ gan. GPT tăng, mức tăng thấp hơn (< 200 u/l) trong 50% số bệnh nhân. Mức độ thay đổi GOT và GPT phản ánh sự hủy hoại tế bào nhu mô gan.

ALP tăng ở 40- 50% số bệnh nhân.

Protein huyết tương bình thường hoặc giảm nhẹ. Albumin huyết tương có thể bình thường khi có sự hủy hoại nhẹ tế bào gan. Sự giảm albumin huyết tương phản ánh sự tiến triển của cổ trướng hay xuất huyết.

Cholesterol toàn phần  huyết tương bình thường hoặc giảm nhẹ. Giảm cholesterol este phản ánh tình trạng giảm chức năng gan do tế bào nhu mô gan bị hủy hoại nhiều hơn.

Bilirubin niệu tăng, urobilinogen bình thường hoặc tăng.

Acid uric huyết tương thường tăng.

Cân bằng điện giải và cân ằng acid-base phản ánh sự rối loạn kết hợp khác nhau vào một thời điểm như suy dinh dưỡng, mất nước, xuất huyết, nhiễm toan chuyển hóa, nhiễm toan hô hấp.

Xơ gan do rượu:

GOT, GPT tăng có thể tới 4 - 5 lần bình thường, mức độ tăng GOT > GPT.

GGT tăng cao.

GLDH tăng nhẹ.

ALP, bilirubin có thể bình thường.

CHE giảm.

Trong các xét nghiệm trên, chú ý xét nghiệm GGT, GLDH vì chúng   phản ánh mức độ nhiễm độc rượu và mức độ tổn thương tế bào gan.

Xơ gan sau viêm gan:

Tiên lượng bệnh nặng hơn so với xơ gan do rượu. Các xét nghiệm sinh hóa thường thấy kết quả sau:

GOT và GPT tăng, mức tăng GPT > GOT.

GGT tăng, mức tăng ít hơn so với xơ gan do rượu. + ALP tăng.

CHE giảm.

Có thể có vàng da do bilirubin máu tăng.

GLDH tăng mạnh phản ánh sự hủy hoại mạnh tế bào nhu mô gan.

Nghiệm pháp galactose niệu: dương tính.

Bilirubin có thể giảm trong một số trường hợp viêm gan hay xơ gan.

Đối với xơ gan sau viêm gan cần phải kiểm tra và theo dõi 6 tháng/1 lần các enzym ALP, GLDH, LDH, GGT. Nếu bệnh tiến triển xấu thì 3 - 4 tháng cần kiểm tra 1 lần.

Xơ gan mật:

Xơ gan mật có 2 loại: xơ gan mật nguyên phát và xơ gan mật thứ phát.

Xơ gan mật nguyên phát:

Các triệu chứng lâm sàng của ứ mật điển hình trong khoảng thời gian dài (có thể kéo dài vài năm) kết hợp với tăng kháng thể IgM. Người ta dựa vào kháng thể (của IgM) để phân biệt xơ gan mật nguyên phát và xơ gan thứ phát.

Bilirubin bình thường ở giai đoạn sớm của ứ mật nhưng tăng ở 60% bệnh nhân trong quá trình của bệnh và là một dấu hiệu cho chẩn đoán chắc chắn.

Bilirubin trực tiếp tăng: 80% bệnh nhân có mức tăng cao hơn 85,5 àmol/l (5mg/dl) và 20% bệnh nhân có tăng cao hơn 171 àmol/l (>10 mg/dl).

Bilirubin gián tiếp bình thường hoặc tăng nhẹ.

ALP huyết tương tăng rõ rệt ở 50% trường hợp, mức tăng > 5 lần so với bình thường.

ALP, GGT tăng rất mạnh phản ánh tình trạng ứ mật ở gan.

GLDH, GOT, GPT tăng cao.

5’-nucleotidase, GGT tăng song song với ALP. (5’-nucleotidase bình thường: 2-15 U/l); ngoài ra còn tăng trong tắc đường dẫn mật trong và ngoài gan, tăng trong viêm gan, chủ yếu là tăng trong trường hợp có ứ mật trong gan.

CHE giảm ở giai đoạn muộn của bệnh.

Cholesterol tăng rõ rệt.

Xơ gan mật thứ  phát:

Xơ gan mật thứ phát có kết hợp với viêm đường mật và ứ mật, các xét nghiệm sinh hóa thường có kết quả như sau:

GOT, GPT, GLDH tăng cao so với bình thường.

ALP, GGT tăng cao.

CHE giảm ít và có thể bình thường.

Hội chứng tắc mật

Bilirubin trực tiếp tăng cao, bilirubin toàn phần  máu tăng.

Phosphatase kiềm tăng.

Cholesterol toàn phần  tăng.

Bilirubin niệu dương tính, urobilinogen giảm, stercobilinogen giảm.

Tài liệu tham khảo :

1. Sách Bệnh học, NXB Đại học Y Hà Nội, sách đào tạo Dược sĩ

2. Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng

3. Các bài báo y học.

Copy ghi nguồn : trungtamthuoc.com

Link bài viết : Sự bất thường trong men gan có thể gây nên những bệnh lý gì ?

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa : , , , , ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)
Vitamin A

Vitamin A

“vitamin a” là thuật ngữ dùng để chỉ  chất mang hoạt tính sinh học của retinol. thuật ngữ “retinoids” bao gồm vitamin a dạng tự nhiên và chất tổng hợp  tương tự như retinol, có hoặc không có hoạt tính sinh học. vitamin a là loại tan trong dầu.vitamin a có tác dụng bảo vệ mắt.

Ý nghĩa của các chỉ số trong phiếu xét nghiệm máu và bệnh liên quan

Ý nghĩa của các chỉ số trong phiếu xét nghiệm máu và bệnh liên quan

khi xét nghiệm máu, cần chú ý :không nên uống thuốc trước khi đi làm xét nghiệm máu..với các loại xét nghiệm máu thời điểm lấy mẫu máu tốt nhất là buổi sáng..wbc (white blood cell – số lượng bạch cầu trong một thể tích máu)giá trị thường nằm trong khoảng từ 4.300 đến 10.800 tế bào/mm3,

Nguy cơ sử dụng cocain liều cao kéo dài và điều trị nghiện cocain

Nguy cơ sử dụng cocain liều cao kéo dài và điều trị nghiện cocain

•cocain là một loại chất kích thích.tác dụng phụ xuất hiện lập tức khi sử dụng cocain bao gồm co thắt mạch máu,.. khi hít cocain có thể dẫn đến mất ý thức về mùi, chảy máu cam,..một số loại thuốc hiện đang được điều tra trong điều trị nghiện cocaine như vigabatrin, modafinil, tiagabine, disulfiram

Chấn thương sọ não: chẩn đoán và điều trị

Chấn thương sọ não: chẩn đoán và điều trị

ctsn là những thương tích hộp sọ và cấu trúc bên trong sọ. lâm sàng thường gặp các trường hợp sau: • vết thương rách lóc da đầu • tụ máu dưới da đầu • chấn động não • xuất huyết dưới nhện • nứt sọ, lún sọ, tụ khí nội sọ • vết thương sọ não • máu tụ ngoài màng cứng

Giảm Nhiều Nhất

Thuốc   Acrasone cream    -   Thuốc da liễu

Acrasone cream

15,000 vnđ
Coveram Tab.5/10 - Thuốc hạ huyết áp

Coveram Tab.5/10

198,000 vnđ
Goldream/tạo giấc ngủ ngon/trungtamthuoc.com

Goldream

200,000 vnđ

Đánh Giá Cao Nhất

Sylhepgan - Điều trị hỗ trợ một số bệnh lý của gan

Sylhepgan

370,000 vnđ
Rosuvastatin stada 10 mg - Thuốc hạ mỡ máu

Rosuvastatin10 mg

150,000 vnđ

Xem Nhiều Nhất

Althax 120mg - Tăng cường miễn dịch, hỗ trợ điều trị nhiễm trùng

Althax 120mg

200,000 vnđ
Pricefil 500mg/kháng sinh/trungtamthuoc.com

Pricefil 500mg

450,000 vnđ
Giỏ hàng: 0