ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

Bệnh hẹp hậu môn- trực tràng: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Bệnh hẹp hậu môn- trực tràng: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

101 25/11/2018 bởi Mai Châu

Hẹp hậu môn trực tràng (Anorectal stricture, Anorectalal stenosis, Stensose anorectale) là tình trạng hậu môn không mở hết để tống phân ra ngoài một cách dễ dàng. Hẹp hậu môn do nhiều nguyên nhân bệnh gây nên. Một số nguyên nhân được quan tâm nhiều là hậu quả của những sai sót trong điều trị các bệnh ở hậu môn trực tràng, đặc biệt là sau điều trị bệnh trĩ.

1. Đại cương bệnh hẹp hậu môn- trực tràng

1.1 Định nghĩa: Hẹp hậu môn là một biến chứng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng trong phẫu thuật hậu môn trực tràng, thường gặp nhất trong phẫu thuật điều trị trĩ.

1.2 Phân loại :

– Theo độ hẹp:

Hẹp nhẹ: hậu môn khó đút lọt ngón trỏ.

Hẹp vừa: đút ngón trỏ.

Hẹp nặng: cả ngón út cũng khó đút lọt.

– Phân loại theo độ cao:

Hẹp ở thấp: dưới đường lược 0.5cm (65%).

Hẹp ở giữa: từ dưới đường lựợc 0,5cm đến trên đường lược 0,5 cm (18,5%)

Hẹp ở cao: trên đường lược 0,5cm (8%) .

Hẹp lan tỏa chiếm toàn bộ chiều dài ống HM (6,5%) .

1.3 Điều trị hẹp hậu môn hiệu quả nhất là ngăn ngừa: tuân thủ các nguyên tắc phẫu thuật vùng hậu môn – trực tràng, dùng chỉ tiêu và tiết kiệm mô, tránh đắp thuốc, vệ sinh tránh viêm nhiễm. Điều trị phẫu thuật chỉ định cho hẹp nặng và hẹp vừa khi điều trị nội và thủ thuật không có kết quả.

hep_hau_mon1

2. Nguyên nhân gây hẹp hậu môn- trực tràng

Nguyên nhân của hẹp hậu môn là một thương tổn ngay ở hậu môn trực tràng (nguyên nhân bên trong) hay một thương tổn ở xung quanh hậu môn trực tràng (nguyên nhân bênh ngoài). Thương tổn là lành tính hay ác tính.

2.1 Thương tổn lành tính

Thương tổn lành tính có thể từ trong hay từ ngoài hậu môn trực tràng.

– Những nguyên nhân từ ngoài thường ít gặp, đó là những u sau trực tràng, lạc nội mạc tử cung, áp xe vùng chậu, máu tụ…

– Những nguyên nhân tại hậu môn trực tràng là dị dạng bẩm sinh, chấn thương, nhiễm trùng, chiếu xạ… Da mềm mại ở chung quanh lỗ hậu môn được thay bằng mô xơ cứng. Các cơ thắt hậu môn cũng một phần hay toàn bộ bị xơ hóa làm cho lòng hậu môn và bóng trực tràng không dãn nở ra được.

2.2 Thương tổn ác tính

Thương tổn ác tính là những u của thành ruột và những u của các tạng nằm cạnh hậu môn trực tràng.

– U thành ruột: khoảng một nửa u đại trực tràng xuất phát từ trực tràng và chỗ nối đại tràng chậu hông-trực tràng. Có tới một phần ba các trường hợp này nằm ở thấp, được phát hiện bằng các động tác thăm trực tràng. Nếu u phát tử lớp niêm mạc, khi thăm trực tràng, ngón tay chạm vào một khối u sần sùi, chiếm hết chu vi ống hậu môn hay bóng trực tràng. U cũng có thể xuất phát từ lớp niêm mạc hay lớp cơ.

– U ngoài hậu môn trực tràng, đa số từ cơ quan tiết niệu, sinh dục, khi thăm hậu môn trực tràng thấy lớp niêm mạc trơn láng. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp u từ ngoài trực tràng thâm nhiễm vào trực tràng làm cho thành trực tràng dầy lên.

2.3 Dị tật bẩm sinh

Trong một báo cáo 232 trẻ em bị dị dạng hậu môn trực tràng, Partridge và Gough ghi nhận 38 em (11,8%) bị hẹp hậu môn trực tràng, tỉ lệ nam nữ là 3/1 và phần lớn là hẹp ở ống hậu môn.

Dị dạng này thường kết hợp với dị dạng khác như dị dạng xương cùng, bệnh tim bẩm sinh, lỗ đái lệch thấp, dị dạng thận…

2.4 Thiếu máu cục bộ

Trong một số trường hợp, thiếu máu đột ngột ở động mạch trực tràng sẽ gây hiện tượng ngoại tủ, xơ hóa và hậu quả làm hẹp trực tràng. Giả thuyết này đã được Wilcock chứng minh trên thực nghiệm động vật năm 1977.

2.5 Phẫu thuật

Các phẫu thuật ở vùng hậu môn trực tràng là nguyên nhân gặp nhiều.

– Khoảng 5-10% các trường hợp cắt trĩ có biến chứng hẹp hậu môn với nhiều mức độ khác nhau. Sẹo hẹp hậu môn xảy ra nhiều sau đắp lá vào hậu môn làm rụng các búi trĩ. Trong gần 8 năm, từ 1-1993 đến 8-2000, bệnh viện Chợ Rẫy có 30 trường hợp hẹp hậu môn sau can thiệp tại chỗ bệnh trĩ, 10% do phẫu thuật cắt trĩ, 13,33% do chích thuốc xơ teo, 76,67% do đắp thuốc nam và đốt  búi trĩ.

– Sau phẫu thuật Cắt đại trực tràng-hậu môn, đặt biệt là ở những trường hợp có biến chứng rò miệng nối.

– Cắt đốt hay cắt tại chỗ các u hậu môn trực tràng cũng có thể là nguyên nhân của hẹp hậu môn.

2.6 Quan hệ tình dục

Giao hợp qua đường hậu môn có thể gây nên những vết rách hay những vết trầy ở niêm mạc mỏng mảnh hậu môn trực tràng, tạo nên một sẹo vòng hay một sẹo lan tỏa, làm hẹp hậu môn.

2.7 Chiếu xạ vùng chậu

Năm 1969, DeCose J.J.báo cáo những trường hợp thương tổn ở hậu môn trực tràng sau khi chiếu xạ vùng chậu. Những thương tổn thường xảy ra ở nhiều chỗ: 44 viêm hậu môn trực tràng, 10 loét trực tràng, 29 rò trực tràng-âm đạo, 10 hẹp trực tràng.

Năm 1976, Palmer J.A. ghi nhận sau chiếu xạ vùng chậu do ung thư cổ tử cung, 10% bệnh nhân có biến chứng hẹp hậu môn.

2.8 Viêm nhiễm

Viêm là nguyên nhân được nhắc tới nhiều nhất trong các nguyên tắc gây hẹp hậu môn. Khoảng 5-10% bệnh nhân bị viêm loét đại trực tràng. Đa số bệnh nhân viêm đại trực tràng do bệnh Crohn sẽ tiến dần tới hẹp hậu môn trực tàng. Ở những người bị bệnh Crohn, ngoài hẹp ở hậu môn trực tràng, còn có thể hẹp ở các giai đoạn khác của đại tràng.

Nứt hậu môn mãn tính có thể gây hẹp ở ống hậu môn do cơ thắt trong bị xơ hóa.

Những bệnh nhân lạm dụng thụt tháo bằng nước hay dầu cũng có thể có hẹp hậu môn do thuốc làm hậu môn không dãn ra được, dần gây hẹp.

2.9 Nhiễm trùng

Pseudomonas aeruginosa có thể tạo ra vết loét ở niêm mạc do nhồi máu. Một cụm các ổ loét ở chung quanh hậu môn hợp lại, tạo ra những thương tổn ở da hậu môn và quanh hậu môn. Khi loét lành, da làm sẹo, hậu môn bị hẹp.

Áp xe hậu môn hình móng ngựa diễn biến hình thành rò cũng có thể làm hẹp hậu môn.

2.10 Nhiễm amip

Bệnh amip do kí sinh trùng Entamoeba histolytica gây nên. Ở đường tiêu hóa, manh tràng, đại tràng lên, đại tràng chậu hông và trực tràng là những vùng bị tổn thương nhiều nhất. Hẹp trực tràng được thấy ở 5% bệnh nhân bị nhiễm amips. Ở bệnh nhân bị lỵ amip, amip xuyên qua niêm mạc gây hoại tử và loét từng đốm. Nhiễm trùng thứ phát gây viêm hậu môn cấp tính. Nhiễm trùng tái đi tái lại gây xơ hóa thành ruột, làm thành ruột đầy lên và gây hẹp. Hẹp do amip khó phân biệt với hẹp do ung thư dạng nhẫn. Thương tổn của nhiễm amip đôi khi khó phát triển thành u amip (ameboma) hay u hạt ở thành ruột gây tắc ruột. Đôi khi lầm chúng với ung thư niêm mạc.

2.11 Viêm hạch bạch huyết hoa liễu

Viêm hạch bạch huyết hoa liễu (lymphogranuloma venereum) là bệnh lây truyền qua đường sinh dục, do vi trùng Chlamydea trachomatis gây nên. Thương tổn thường khu trú ở vùng hậu môn trực tràng. Sau khi nhiễm, hạch bạch huyết ở trực tràng và quanh trực tràng bị xâm lấn, tân dịch tích tụ lại làm sưng nề. Nhiễm trùng thứ phát làm xơ hóa vùng hậu môn trực tràng và hẹp có thể xuất hiện. Đoạn hẹp thường rất dài, có thể từ hậu môn lên tới đại tràng góc lách.

2.12 Bệnh lậu

Lậu là bệnh lây truyền qua đường sinh dục, do vi khuẩn Neisseria gonorrheae gây nên. Cũng là một trong những nguyên nhân gây hẹp hậu môn trực tràng, nhưng hiếm gặp. Sau khi nhiễm, niêm mạc trực tràng bị viêm, phù nề và loét. Ở những trường hợp viêm nặng và kéo dài, thương tổn sẽ xơ hóa và hẹp hậu môn trực tràng xuất hiện.

2.13 Lao và nấm

Lao và nấm cũng có thể gây hẹp hậu môn trực tràng nhưng nguyên nhân này rất hiếm gặp.

hep_hau_mon2

3. Triệu chứng của bệnh hẹp hậu môn- trực tràng

– Táo bón chính là triệu chứng đầu tiên và thường gặp ở nhiều người bệnh bị hẹp hậu môn. Tình trạng táo bón có thể kéo dài gây bất tiện trong sinh hoạt đại tiện.

– Trước khi đi đại tiện thường đau quặn bụng, khi đại tiện phải rặn nhiều và vùng hậu môn thường có cảm giác đau tức. Nguyên nhân là do hậu môn bị hẹp không đủ rộng để có thể tống phân ra ngoài.

– Hẹp hậu môn có thể gây ra tình trạng chảy máu khi đại tiện.

– Đại tiện ra phân nhỏ và dẹt.

– Những người bị hẹp hậu môn có kèm theo sa niêm mạc thường bị chảy dịch gây ẩm ướt ở hậu môn.

4. Chẩn đoán hẹp hậu môn

Chẩn đoán tình trạng hẹp hậu môn thì không phức tạp nhưng tìm ra nguyên nhân thì nhiều khi rất khó khăn.

Trước một bệnh nhân hẹp hậu môn phải thăm khám rất tỉ mỉ. Cần hỏi bệnh sử thật kỹ lưỡng, đặc biệt chú ý tới những than phiền về tiết niệu, sinh dục, sốt, mất cân, tiết dịch ở hậu môn, tiền sử chiếu xạ, phẫu thuật, viêm nhiễm đường tiêu hóa, bệnh Crohn, chấn thương vùng hậu môn, nhất là sinh hoạt tình dục qua đường hậu môn.

Nhìn ống hậu môn có thể thấy ống hậu môn bị hẹp, có vết rách ở da vùng hậu môn, thương tổn nứt hậu môn. Ở những bệnh nhân lớn tuổi lạm dụng thuốc nhuận tràng, chỗ hẹp thường ngắn và phẳng. Trong những trường hợp hẹp do phẫu thuật ở vùng hậu môn trực tràng, hậu môn bị biến dạng trầm trọng. Thăm trực tràng là động tác bắt buộc vì nó giúp ích nhiều cho chẩn đoán.

Nếu cần, phải soi đại trực tràng, nhưng gặp khó khăn. Khi hẹp nhiều, phải gây mê và phải dùng loại ống soi chuyên dụng cho ruột hẹp (stricturoscope). Nên phải làm sinh thiết xét nghiệm mô học. Khi nghi ngờ có thương tổn ác tính, bắt buộc phải sinh thiết.

Chụp đại tràng cản quang để đánh giá toàn bộ khung đai tràng, đặt biết trong trường hợp có nhiều chỗ hẹp trên đại tràng. Trên phim X quang, nếu là hẹp lành tính do viêm nhiễm thì đoạn hẹp dài và chiếm cả chu vi lòng ruột. Hẹp do nguyên nhân ác tính, chỗ hẹp thường ngắn và lệch một bên.

Xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng. Soi tươi và cấy mủ. Tìm yếu tố lao, làm phản ứng cố định bổ thể phát hiện bệnh viêm hạch bạch huyết hoa liễu.

Một số trường hợp hẹp do u ở vùng chậu chỉ có thể chẩn đoán được nguyên nhân khi mổ thăm dò.

5. Cách điều trị bệnh hẹp hậu môn- trực tràng

Các chuyên gia về hậu môn trực tràng đều khẳng định, điều trị bệnh hẹp hậu môn muốn khỏi hoàn toàn phụ thuộc vào vị trí hẹp, mức độ nặng nhẹ của tổn thương và nguyên nhân gây hẹp hậu môn. Ở mỗi người sẽ có một cách điều trị khác nhau, vì thế khi có biểu hiện của bệnh hẹp hậu môn cần đi khám bác sĩ để tìm cách giải quyết triệt để. Các cách điều trị hẹp hậu môn phổ biến đó là:

5.1 Thứ nhất, chữa trị hẹp hậu môn bằng phương pháp nội khoa

Phương pháp này thường chỉ được áp dụng trong trường hợp bệnh còn nhẹ, lành tính. Bác sĩ sẽ cho dùng thuốc nhuận tràng hoặc thuốc gây tê tại chỗ. Sau đó, sẽ tiến hành nong hậu môn nhằm làm biến mất hoàn toàn lỗ hẹp hậu môn. Có 2 cách nong hậu môn phổ biến:

+ Nong hậu môn bằng tay: Bác sĩ sẽ áp dụng cho trường hợp hẹp hậu môn ở thấp bằng cách cắt cơ thắt. Tuy nhiên, vị trí cắt thường không loại bỏ được lỗ hẹp, thường xuyên tái phát.

+ Nong bằng dụng cụ: Thường được áp dụng cho trường hợp hẹp hậu môn ở cao. Dụng cụ nong thường là que kim loại Hegar, que nong bằng cao su, nong ống soi. Thời gian nong kéo dài, khi nong phải tăng dần kích thước dụng cụ nong, từ nhỏ đến lớn, để chỗ hẹp dãn ra từ từ. Thủ thuật này cũng được sử dụng trong trường hợp sau phẫu thuật trĩ bị hẹp hậu môn.

Ngoài ra, để bệnh nhanh khỏi thì người bệnh cần có một chế độ ăn uống hợp lý. Thường xuyên vận động để giảm áp lực cho hậu môn. Khi đi đại tiện không dùng sức quá nhiều, sau khi đi cần vệ sinh sạch sẽ để không bị viêm nhiễm.

hep_hau_mon3

5.2 Thứ hai, chữa trị hẹp hậu môn bằng phương pháp ngoại khoa

Các trường hợp áp dụng ngoại khoa thường là bệnh ác tính, hẹp do xơ teo ống hậu môn được thực hiện bằng cách cắt bỏ hoặc phẫu thuật. Cụ thể:

+ Cắt cơ thắt trong và tạo hình da: Phương pháp này nhằm tạo hình lại hậu môn được giới khoa học đánh giá cao. Sau khi cắt bỏ các cục u ác tính thì sẽ tạo hình vạt da trượt hoặc vạt da xoay để giúp vết cắt mau lành và bệnh nhân cảm thấy dễ chịu hơn.

+ Phẫu thuật tạo hình vạt da trượt kiểu Y-V: Phương pháp này do Peen khởi xướng lần đầu vào năm 1948 sau đó được nhiều người cải tiến thêm. Cách thực hiện như sau: bác sĩ sẽ rạch một đường hình chữ Y ở phía trong từ chỗ nối niêm mạc – da, khi đi ra ngoài thì tách đôi dần. Đường rạch này không quá sâu để máu chảy ít hơn, sau đó sẽ tiến hành khâu vết rạch lại. Đường rạch chữ Y biến thành chữ V và hậu môn được mở rộng hơn.

+ Phẫu thuật tạo hình trực tràng bằng đường sau: Phẫu thuật viên sẽ rạch đường giữa phía sau hậu môn, cắt bỏ xương cụt để làm lộ rõ phần hẹp hậu môn. Tiếp đến, sẽ rạch một đường dọc ở trực tràng qua lỗ hẹp và khâu ngang lại, đường dọc sẽ biến thành đường ngang. Khi khâu xong thì lòng trực tràng sẽ mở rộng hơn. Tuy nhiên, cách làm này có có nhược điểm là vết khâu khó lành, dễ gây rò phân.

+ Phẫu thuật hậu môn nhân tạo: Hậu môn bị hẹp quá mức, các cơ thắt hậu môn cũng như vùng xung quanh hậu môn bị tổn thương nặng thì bắt buộc phải làm hậu môn nhân tạo ở đại tràng chậu hông để bệnh nhân có thể đi đại tiện dễ dàng. Khi vùng tổn thương đã lành hẳn thì hậu môn nhân tạo sẽ được đóng lại.

CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH CẮT VÒNG XƠ, TẠO HÌNH HẬU MÔN

1. Tư thế: (xem bài nguyên tắc chung phẫu thuật vùng hậu môn – trực tràng).

2. Vô cảm: (xem bài nguyên tắc chung phẫu thuật vùng hậu môn – trực tràng).

3. Kĩ thuật: Thời gian mổ dự kiến khoảng 30 – 45 phút

3.1. Nguyên tắc: bảo tồn tối đa cấu trúc giải phẫu và chức năng sinh lý của hệ thống cơ thắt hậu môn để bảo đảm chức năng tự chủ của ống hậu môn.

3.2. Cụ thể:

– Xác định kiểu hẹp, vị trí và độ dài vòng xơ hẹp hậu môn

– Dùng dao điện cắt mở vòng xơ hẹp, thường mở vị trí 6h.

– Có thể kết hợp mở cơ thắt trong bán phần phía bênTạo hình ống hậu môn trong trường hợp hẹp nặng để giải quyết việc mất nhiều mô ở ống hậu môn. Có nhiều loại phẫu thuật tạo hình chuyển vạt ở ống hậu môn giúp làm mềm mại phần cầu da niêm mạc ống hậu môn và thay thế phần sẹo xơ:

Phương pháp Martin (Hình A): là phương pháp hạ vạt niêm mạc phía bên (Lateral mucosal advancement flap). Dùng để sửa những sẹo hẹp ở độ cao trung bình. Mở cơ thắt trong nên được thực hiện nếu có những dấu hiệu của hẹp chức năng. Phẫu tích dưới niêm mạc của ống hâu môn và phần thấp trực tràng qua một đường rạch ngang ở đường lược. Vạt niêm mạc được kéo xuống đến phía ngoài cơ thắt trong gần phần da rìa hậu môn, phần còn lại của vết thương được để hở để tránh tối đa việc lộ niêm mạc và tiết dịch.

Nếu 50% vòng ống hậu môn bị sẹo xơ thì có thể dùng phương pháp hạ niêm mạc (Martin), tuy nhiên nếu nhiều hơn 50% vòng ống hậu môn thì các phương pháp khác nên được lựa chọn.

Các phương pháp khác: chuyển vạt Y-V (Hình B), chuyển vạt V-Y (Hình C), tạo vạt hình kim cương (Hình D), tạo vạt hình ngôi nhà (Hình E), tạo vạt hình chữ U (Hình  F), chữ C và hình chữ S (Hình  G).

phuong_phap_phau_thuat_hep_hau_mon

THEO DÕI SAU CẮT VÒNG XƠ, TẠO HÌNH HẬU MÔN

– Ngâm hậu môn 2 – 3 lần/ ngày, dùng nước ấm, có thể pha loãng với dung dịch betadine.

– Thay băng 2 lần / ngày với các dung dịch sát khuẩn sao cho vết thương liền từ sâu ra nông, tránh khép miệng sớm vết thương.

– Người bệnh sau mổ ăn chế độ nhiều xơ, nhuận tràng trong khoảng thời gian ngắn sau mổ. Một số trường hợp người bệnh nên được cho táo bón 3-5 ngày và sau đó ăn theo chế độ nhiều xơ.

XỬ TRÍ TAI BIẾN CẮT VÒNG XƠ, TẠO HÌNH HẬU MÔN

– Đau sau mổ: Dùng thuốc giảm đau loại paracetamol, ngâm hậu môn nước ấm cũng là biện pháp giảm đau tốt.

– Chảy máu: tùy mức độ, có thể băng ép hoặc đốt điện, khâu cầm máu

– Hoại tử mảnh ghép tạo hình ống hậu môn

– Trường hợp nhiễm trùng nặng, toàn trạng người bệnh kém, suy kiệt cần điều trị tích cực: ngâm rửa sạch tại chỗ, kháng sinh toàn thân mạnh, nâng cao thể trạng, chữa các bệnh phối hợp.

Copy ghi nguồn: trungtamthuoc.com

Link bài viết:Bệnh hẹp hậu môn- trực tràng: Nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Tài liệu tham khảo

  1. https://thaythuocvietnam.vn/thuvien/dieu-tri-hep-hau-mon-bang-cat-vong-xo-tao-hinh-hau-mon/
  2. https://www.chuabenhtrinoitringoai.com/benh-hep-hau-mon-la-gi.html
  3. https://benh.vn/benh-hep-hau-mon-truc-trang-4140/

 

Đánh giá tin tức

Điểm



Từ khóa :

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)

Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh loãng xương

Triệu chứng và nguyên nhân gây bệnh loãng xương

loãng xương là một tình trạng của xương dễ bị tổn thương với sự gia tăng nguy cơ gãy xương. mật độ xương  giảm nhanh hơn ở phụ nữ sau mãn kinh.

Hormon tuyến giáp tác dụng lên cơ thể như thế nào và cơ chế ra sao?

Hormon tuyến giáp tác dụng lên cơ thể như thế nào và cơ chế ra sao?

tác dụng trên sự phát triển của cơ thể :  hormon tuyến giáp có vai trò quan trọng trong sự phát triển và hoàn thiện cơ thể. ở người tác dụng của hormon tuyến giáp chủ yếu trong thời kì trẻ đang lớn..tác dụng trên hệ tim mạch : hormon giáp có ảnh hưởng rõ rệt đến hệ tim mạch

Các triệu chứng lâm sàng và điều trị bệnh động kinh

Các triệu chứng lâm sàng và điều trị bệnh động kinh

động kinh là sự rối loạn từng cơn chức năng của thần kinh trung ương do sự phóng điện đột ngột, quá mức, đồng thời của các neuron. thuốc chống động kinh là những thuốc có khả năng loại trừ hoặc làm giảm tần số, mức độ trầm trọng của cơn động kinh và các triệu chứng tâm thần kèm theo cơn động kinh

Ngưu tất: đặc điểm thực vật, thành phần và công dụng

Ngưu tất: đặc điểm thực vật, thành phần và công dụng

cây ngưu tất còn được gọi là cây cỏ xước, hoài ngưu tất. tên khoa học là achyranthes bidentate blume. , thuộc họ rau dền( amaranthaceae). thường sử dụng rễ phơi hay sấy khô của cây. theo sách cổ vì bị thuốc giống đầu gối con trâu nên được gọi là ngưu tất.



Giảm Nhiều Nhất

Goldream/tạo giấc ngủ ngon/trungtamthuoc.com giá bao nhiêu tiền? có tác dụng gì?

Goldream

200,000 vnđ
Thuốc Coveram 5mg/10mg có tác dụng làm hạ huyết áp

Coveram Tab.5/10

198,000 vnđ
Thuốc Ameflu + C - Thuốc điều trị cảm lạnh, cảm cúm

Ameflu + C

100,000 vnđ

Đánh Giá Cao Nhất

Rosuvastatin stada 10 mg - Thuốc hạ mỡ máu giá bao nhiêu tiền? có tác dụng gì?

Rosuvastatin10 mg

150,000 vnđ

Xem Nhiều Nhất

Thuốc Pricefil 500mg giá bao nhiêu? mua ở đâu? có tác dụng gì?

Pricefil 500mg

450,000 vnđ
Althax 120mg - Tăng cường miễn dịch, hỗ trợ điều trị nhiễm trùng

Althax 120mg

200,000 vnđ
Giỏ hàng: 0