ht strokend thực phẩm hỗ trợ tai biến mạch máu não Tặng 200K khi đăng ký thành viên Thuốc Tại TrungTamThuoc
HOTLINE : 1900 888 633
Tư Vấn Sức Khỏe Trực Tuyến
Giao hàng tận nơi

[CẦN BIẾT] Bệnh BASEDOW (bướu cổ) được chẩn đoán và điều trị thế nào?

1913 14/04/2020 bởi Dược sĩ Lan Anh

Bởi vì bệnh basedow là một rối loạn tự miễn dịch, do đó nó cũng có ảnh hưởng đến các hệ thống cơ quan khác đặc biệt là trên hệ thần kinh, tim mạch, tuyến giáp… Vậy bệnh basedow được nhận biết và điều trị như thế nào?

Bệnh basedow là gì?

Bệnh basedow hay bệnh Graves, được đặt tên theo nhà khoa học Robert J.Graves, vào khoảng năm 1830. Đây là một bệnh tự miễn đặc trưng bởi cường giáp do sự xuất hiện các tự kháng thể. Các globulin miễn dịch tuyến giáp kích thích tuyến giáp liên kết và kích hoạt các thụ thể thyrotropin, tuyến giáp phát triển và các nang tuyến giáp tăng tổng hợp hormon.

Bệnh basedow có liên quan đến thiếu máu ác tính, bạch biến, đái tháo đường type 1, suy thượng thận tự miễn, viêm khớp dạng thấp và lupus ban đỏ hệ thống.

Bệnh basedow là gì?

Bệnh basedow là gì?

Nguyên nhân gây bệnh basedow.

Bệnh basedow là bệnh tự miễn, và hiện nay vẫn chưa biết được rõ nguyên nhân gây ra bệnh này.

Bệnh basedow bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp của các yếu tố môi trường và di truyền, thường gặp nhiều hơn ở bệnh nhân nữ. Trong đó, những người mắc nguy cơ cao bệnh basedow bao gồm:

  • Người bệnh bị nhiễm một số nhân truyền nhiễm như Yersinia enterocolitica và Borrelia burgdorferi…

  • Stress có thể là một yếu tố cho tự miễn dịch tuyến giáp. Ức chế miễn dịch gây căng thẳng cấp tính có thể được theo sau bởi sự tăng động của hệ thống miễn dịch, có thể làm giảm bệnh tuyến giáp tự miễn. Điều này có thể xảy ra trong thời kỳ hậu sản, trong đó bệnh basedow có thể xảy ra 3-9 tháng sau khi sinh.

  • Interferon beta-1b và interleukin-4, khi được sử dụng trong điều trị, có thể gây ra bệnh basedow.

  • Hay những người bị chấn thương tuyến giáp, phẫu thuật tuyến giáp, tiêm ethanol qua da và nhồi máu tuyến giáp.

  • Estrogen có thể ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch, đặc biệt là chức năng của tế bào B. Cả chức năng tế bào T và B đều bị suy giảm trong thai kỳ, và sự phục hồi từ sự ức chế miễn dịch này được cho là góp phần vào sự phát triển của hội chứng tuyến giáp sau sinh.

  • Người bệnh dùng nhiều iod hoặc thuốc như amiodarone có thành phần là iot hay bị nhiễm phóng xạ.

Các nguyên nhân gây bệnh basedow là gì?

Các nguyên nhân gây bệnh basedow là gì?

Biểu hiện của bệnh basedow như thế nào?

Bởi vì bệnh basedow là một rối loạn tự miễn dịch, do đó nó cũng có ảnh hưởng đến các hệ thống cơ quan khác đặc biệt là trên hệ thần kinh, tim mạch, tuyến giáp… Cụ thể như sau:

  • Biểu hiện rối loạn chuyển hóa và thân nhiệt của bệnh basedow: Người bệnh cảm thấy khát, nhanh đói do đó ăn và uống nước nhiều hơn, dễ sụt cân. Người bệnh thường xuyên cảm thấy nóng bức, chảy nhiều mồ hôi, có thể có sốt nhẹ đồng thời bàn tay ấm, ẩm và mọng nước đặc trưng của bệnh basedow. Có đến khoảng 50% bệnh nhân có biểu hiện tiêu chảy không đau quặn do tăng nhu động ruột. Do nồng độ hormon tuyến giáp cao nên có thể bị loạn dưỡng protid, lipid ở gan, nặng hơn là tăng enzym gan rồi gây loạn dưỡng, xơ gan.

  • Bệnh basedow gây rối loạn thần kinh - tinh thần và cơ: Thông thường, người bệnh sẽ cảm thấy bứt rứt, dễ cáu gắt, giận giữ, hay bị chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi, mất ngủ. Kèm theo đó là hiện tượng đỏ mặt do rối loạn vận mạch, run tay, chân, liệt cơ có chu kỳ, có thể có rối loạn tâm thần.

  • Người bệnh có bướu tuyến giáp ở các mức độ khác nhau, thường không viêm. Ở một số người bệnh có thể bị chèn ép khí quản gây khó thở.

  • Có đến 50% người bệnh basedow có biểu hiện trên mắt đặc trưng đó là mắt lồi. Tình trạng lồi mắt này có thể xuất hiện ở cả hai bên, có thể cân xứng hoặc không. Lúc này, người bệnh thường có cảm giác chói mắt, cộm và đau nhức mắt, chảy nước mắt, viêm mí, kết mạc, giác mạc, giảm thị lực. Nếu bệnh tiến triển mức độ nặng có thể gây tổn thương giác mạc, thậm chí là gây mù.

  • Bệnh basedow có thể làm thay đổi chức năng của một số tuyến nội tiết như sinh dục, tuyến thượng thận, cường sản tuyến ức. Bệnh có thể gây rối loạn kinh nguyệt, thậm chí gây teo tử cung, buồng trứng, gây vô sinh.

  • Ngoài ra, bệnh basedow còn có thể gây phù niêm trước xương chày, to đầu chi, bạch biến ở da, viêm khớp vai.

Người bệnh basedow bị lồi mắt.

Người bệnh basedow bị lồi mắt.

Điều trị bệnh basedow như thế nào?

Hiện nay, để điều trị bệnh basedow có thể điều trị nội khoa, điều trị bằng iod phóng xạ, phẫu thuật tuyến giáp.

Điều trị nội khoa bệnh basedow bằng thuốc

Các thuốc kháng giáp tổng hợp điều trị bệnh basedow

Các thuốc kháng giáp tổng hợp là dẫn chất của thioamides hoạt động như các tác nhân antithyroid. Trong đó thường dùng một số thuốc như sau:

Propylthiouracil (PTU): Đây là dẫn xuất của thiourea ức chế hình thành iod bởi tuyến giáp. Ngăn chặn quá trình oxy hóa iod trong tuyến giáp, do đó ức chế tổng hợp hormon tuyến giáp. Đồng thời nó ức chế chuyển đổi T4 thành T3 ngoại vi. Thông thường, thời gian điều trị thường là 1 đến 2 năm. 

Methimazole: Ức chế hormon tuyến giáp bằng cách ngăn chặn quá trình oxy hóa iod trong tuyến giáp.

Các thuốc kháng giáp được điều trị theo 2 giai đoạn, đó là giai đoạn tấn công và giai đoạn duy trì.

  • Giai đoạn tấn công thường từ 6 đến 8 tuần, sau khi điều trị khoảng 10 đến 20 ngày thì nồng độ hormon tuyến giáp mới bắt đầu giảm xuống, cho đến 2 tháng sau thì sẽ giảm rõ rệt hơn. Ở giai đoạn này, thuốc propylthiouracil dược dùng với liều từ 400 đến 450mg mỗi ngày và chia làm 3 lần dùng. Còn thuốc methimazole được dùng với liều ít hơn, từ 20 đến 30 mg/ngày, chia đều ra 2 lần dùng

  • Chuyển sang giai đoạn duy trì: Giai đoạn này thường kéo dài từ 18 đến 24 tháng, lúc này người bệnh dùng thuốc với liều giảm dần qua mỗi tháng căn cứ vào cải thiện bệnh lý. Trong đó, propylthiouracil mỗi lần giảm từ 50 đến 100mg, đến liều duy trì mỗi ngày từ 50 đến 100mg. Còn methimazole thì mỗi đợt giảm từ 5 đến 10mg, sau đó duy trì với mỗi ngày từ 5 đến 10mg.

Bệnh basedow có thể điều trị nội khoa.

Bệnh basedow có thể điều trị nội khoa.

Thuốc chẹn beta-adrenergic điều trị bệnh basedow

Các thuốc ức chế beta giúp giảm nhanh các triệu chứng hyperadrenergic và các dấu hiệu của bệnh nhiễm độc giáp trạng trước khi giảm nồng độ hormone tuyến giáp. Đồng thời, khi dùng ở liều cao có thể ức chế chuyển đổi T4 về T3 ở ngoại biên. 

Thuốc được sử dụng kết hợp với các thuốc kháng giáp tổng hợp, được dùng trong giai đoạn tấn công. Trong đó propranolol là thuốc được sử dụng nhiều nhất với liều mỗi lần từ 20 đến 80mg, ngày dùng nhiều lần, cách nhau mỗi 6 đến 8 tiếng.

Điều trị bệnh basedow bằng Iod phóng xạ

Điều trị bằng phóng xạ iod là một liệu pháp thông dụng trong điều trị bệnh basedow.

Điều trị bằng iod phóng xạ có thể được thực hiện trong môi trường ngoại trú. Liều thông thường dao động từ 5-15 mCi. Để xác định liều iod, sử dụng các công thức khác nhau liên quan trọng lượng tuyến giáp và hấp thụ phóng xạ iod hoặc sử dụng liều iod cố định.

Nếu bệnh nhân hiện đang điều trị thuốc kháng giáp phải ngưng thuốc ít nhất 2 ngày trước khi điều trị bằng phương pháp này.

Kết quả xét nghiệm chức năng tuyến giáp thường cải thiện trong vòng 6-8 tuần điều trị, nhưng sẽ khác nhau tùy thuộc người bệnh.

Lưu ý, tuyệt đối không được sử dụng phóng xạ iod cho phụ nữ mang thai.

Điều trị bệnh basedow bằng phẫu thuật tuyến giáp

Cắt tuyến giáp không phải là liệu pháp đầu tiên được khuyến cáo cho bệnh basedow. Tuy nhiên, đây là một lựa chọn điều trị thay thế an toàn ở những bệnh nhân không tuân thủ hoặc không thể dung nạp thuốc kháng giáp. Phẫu thuật tuyến giáp cũng được chỉ định ở người bị bệnh mắt trung bình đến nặng, có bướu cổ lớn, hoặc không dùng được liệu pháp phóng xạ iod.

Phẫu thuật tuyến giáp điều trị bệnh basedow.

Phẫu thuật tuyến giáp điều trị bệnh basedow.

Sử dụng thuốc kháng giáp trong khoảng 6 tuần, có hoặc không có kết hợp thuốc chẹn beta để bình giáp trước phẫu thuật. Thông thường chế phẩm chứa iod vô cơ được sử dụng trong 10 ngày trước khi phẫu thuật để giảm kích thước tuyến giáp và mất máu trong phẫu thuật tuyến giáp.

Phẫu thuật cắt bỏ hoàn toàn hoặc bán phần tuyến giáp.

Bất kể mức độ phẫu thuật, tất cả bệnh nhân đều cần theo dõi dài hạn sau phẫu thuật.

Trên đây là các thông tin cơ bản về bệnh basedow, hy vọng sẽ hữu ích cho các bạn trong quá trình điều trị và phòng bệnh.

 

Đánh giá

Điểm

Từ khóa : , ,

Xếp hạng : (0 điểm - Trong 0 phiếu bầu)
[CẦN BIẾT] Bệnh BASEDOW (bướu cổ) được chẩn đoán và điều trị thế nào?
Nhà sản xuất
Tên sản phẩm
Giá VND
Trang thái Còn hàng

[THÔNG TIN CẦN BIÊT] BÉO PHÌ GÂY NHIỀU NGUY HẠI ĐẾN CƠ THỂ [THÔNG TIN CẦN BIÊT] BÉO PHÌ GÂY NHIỀU NGUY HẠI ĐẾN CƠ THỂ

✅người bệnh béo phì không chỉ ✅mất tự tin về vóc dáng mà còn tăng nguy cơ mắc các bệnh như✅ bệnh tim, tiểu đường, huyết áp cao và một số bệnh ✅ung thư.✅

TĂNG CALCI MÁU tin tức tại bệnh nội tiết chuyển hóa TĂNG CALCI MÁU tin tức tại bệnh nội tiết chuyển hóa

cường cận giáp nguyên phát gây ra phần lớn những trường hợp tăng calci máu ở người bệnh cấp cứu. đây là bệnh thường gặp, đặc biệt là ở phụ nữ lớn tuổi, chiếm khoảng 2/1000 trường hợp tai nạn hàng năm. gần 85% là do u một tuyến, 15% do phì đại mô của cả bốn tuyến và 1% do ung thư tuyến cận giáp.

NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN, BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH CƯỜNG GIÁP NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN, BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH CƯỜNG GIÁP

✅bệnh nhân cường giáp có thể không có triệu chứng lâm sàng, hoặc nhẹ nhưng có khi bệnh nặng gây bão tuyến giáp. người bệnh có thể ✅đánh trống ngực, run rẩy...✅

NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ CƯỜNG ALDOSTERON TIÊN PHÁT NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ CƯỜNG ALDOSTERON TIÊN PHÁT

✅ cường aldosteron tiên phát có thể gây ra tình trạng ✅ tăng huyết áp và ✅ hạ kali máu, nếu không điều trị có thể gây biến chứng sang tim, thận, mạch máu.✅


Giỏ hàng: 0