Sơn từ cô (Mao từ cô - Pleione bulbocodioides)
0 sản phẩm
Dược sĩ Tú Phương Dược sĩ lâm sàng
Ước tính: 0 phút đọc, Ngày đăng:
Nếu phát hiện nội dung không chính xác, vui lòng phản hồi thông tin cho chúng tôi tại đây
| Phân loại khoa học | |
|---|---|
| Giới(regnum) | Plantae (Thực vật) Angiosperms (Thực vật hạt kín) |
| Bộ(ordo) | Asparagales |
| Họ(familia) | Lan (Orchidaceae) |
| Chi(genus) | Pleione |
| Danh pháp hai phần (Tên khoa học) | |
Pleione bulbocodioides (Franch.) Rolfe | |
| Danh pháp đồng nghĩa | |
Coelogyne bulbocodioides Franch. | |

1 Giới thiệu
Tên khoa học: Pleione bulbocodioides (Franch.) Rolfe
Tên đồng nghĩa: Coelogyne bulbocodioides Franch.
Tên gọi khác: Mao từ cô
Họ thực vật: Lan (Orchidaceae)
1.1 Đặc điểm thực vật
Theo các tài liệu cổ, sơn từ cô được ghi nhận với tên khoa học Pleione bulbocodioides. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay dược liệu này chủ yếu được nhập từ Trung Quốc. Qua khảo sát tại khu vực tây nam Trung Quốc – nơi khai thác dược liệu – một số tác giả cho thấy cây thuộc nhiều loài khác nhau có hình thái bên ngoài khá tương đồng. Do chưa thu thập được mẫu đầy đủ có hoa và quả, nên tạm thời xác định ở mức Pleione sp.
Đây là cây sống nhiều năm, có thân rễ dạng giả hành hình trứng, dài khoảng 1,5 cm, rộng chừng 1,3 cm, mang nhiều rễ nhỏ. Lá hình mác, dài khoảng 2–3,5 cm, màu xanh lục, gân lá song song. Hiện chưa có mô tả rõ ràng về hoa và quả.


1.2 Thu hái và chế biến
Thời điểm thu hái thường vào tháng 4. Sau khi đào, loại bỏ phần thân, vảy lá và rễ con, dược liệu được rửa sạch đất cát, sau đó đồ chín tới phần giữa củ rồi đem phơi hoặc sấy khô.
Dược liệu khô có dạng hình cầu hoặc hình khối không đều, dài khoảng 1,5–2,5 cm, đường kính 1,5–2 cm. Mặt ngoài màu vàng trắng hoặc nâu nhạt, có thể còn vảy lá hoặc đã được bóc bỏ. Chất cứng, khó bẻ; mặt cắt màu vàng trắng, hơi trong; không mùi, vị nhạt.
1.3 Đặc điểm phân bố
Sơn từ cô hiện nay là dược liệu phải nhập khẩu từ Trung Quốc. Tại nước này, nguồn thu mua chủ yếu tập trung ở các tỉnh Quý Châu và Tứ Xuyên. Tuy nhiên, ngay tại địa phương, vị thuốc này ít được sử dụng mà phần lớn được thu gom để phân phối đến các vùng khác.
=>> Xem thêm: Cây Khôi nước (Baliospermum montanum) - Chữa viêm họng, trị rắn cắn
2 Công dụng theo Y học cổ truyền
Sơn từ cô có vị ngọt, hơi cay, tính hàn, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng. Vị thuốc thường được dùng trong các trường hợp ung thũng, đinh độc, loa lịch, cũng như các chứng nhiễm độc do rắn hoặc côn trùng cắn.
Dược liệu Sơn từ cô chủ yếu được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian. Liều dùng đường uống thường từ 3–6 g mỗi ngày; dùng ngoài không quy định liều lượng.

=>> Xem thêm: Sâu Ban Miêu (Sâu Đậu - Mylabris cichorii L.) dùng để trị mụn nhọt, lở loét
3 Một số cách trị bệnh từ cây
Chữa ngộ độc thức ăn (Tử kim đỉnh):
- Sơn từ cô 80 g
- Đại Kích 60 g
- Ngũ bội tử 40 g
- Thiên kim tử sương 40 g
- Chu sa 16 g
- Xạ hương 12g
- Minh Hùng Hoàng 8 g
Các vị được chế thành thuốc đĩnh hoặc thuốc viên, mỗi viên hoặc đĩnh nặng 2–4 g. Mỗi lần dùng 1–2 g, ngày uống 1–2 lần với nước nóng. Bài thuốc này khi bào chế thành đĩnh còn được gọi là tử kim đỉnh hoặc thái ất tử kim đỉnh, thường dùng trong trường hợp ngộ độc thức ăn; khi người bệnh nôn hoặc đi ngoài được thì coi như đạt hiệu quả.
Chú thích:
- Đây là vị sơn từ cô được ghi nhận chính thức. Ngoài ra còn một vị khác cùng tên nhưng công dụng khác, cần phân biệt rõ.
- Một số tài liệu Trung Quốc khác lại cho rằng sơn từ cô là củ của cây Tulipa edulis Baker, thuộc họ Hành – Tỏi (Liliaceae), có chứa tulipin và Inulin. Nhận định này vẫn cần được kiểm chứng và đối chiếu thêm.
4 Tài liệu tham khảo
- Tác giả Đỗ Tất Lợi. Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam (Xuất bản năm 2004). Sơn từ cô trang 549 – 550. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.

