Sơn tra (Crataegi Fructus)

0 sản phẩm

Ước tính: 2 phút đọc, Ngày đăng:

Nếu phát hiện nội dung không chính xác, vui lòng phản hồi thông tin cho chúng tôi tại đây

Phân loại khoa học
Giới(regnum)

Plantae (Thực vật)

Bộ(ordo)

Rosales (Bộ Hoa hồng)

Họ(familia)

Rosaceae (Họ Hoa hồng)

Phân họ(subfamilia)

Maloideae hay Spiraeoideae

Chi(genus)

Crataegus

Danh pháp hai phần (Tên khoa học)

Crataegus pinnatifida Bunge

Crataegus cuneata Sieb. et Zucc.

Sơn tra (Crataegi Fructus)

1 Sơn tra là quả gì? Giới thiệu

Cây Sơn tra còn được gọi với nhiều tên khác như Bắc sơn tra, Nam sơn tra, Dã sơn tra, Aubepine. Tên khoa học của Sơn tra Bắc là Crataegus pinnatifida Bunge, còn Nam sơn tra (Dã sơn tra) là Crataegus cuneata Sieb. et Zucc., đều thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae).

Theo Dược điển Việt Nam V, dược liệu Sơn tra là quả của loài Malus doumeri (Bois) A.Chev. (đồng danh Docynia doumeri), mặc dù trong thực tế tại Việt Nam, quả của loài Docynia indica (Wall.) Decne. (tên thường gọi là Táo mèo) cũng được sử dụng rất phổ biến để thay thế Sơn tra chi Crataegi.

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập chủ yếu đến toàn bộ thông tin của cây Sơn tra thuộc chi Crataegi có nguồn gốc Trung Quốc

====>>> Xem thêm về loài Sơn tra có nguồn gốc Việt Nam tại Táo Mèo (Sơn Tra, Chua Chát - Docynia indica)

2 Phân biệt Cây Sơn tra (Docynia indica) và Sơn tra (Crataegi Fructus)

Sơn tra chuẩn gốc (Sơn tra chi Crataegi) vốn dĩ là loại quả được thu hoạch từ các loài cây không có phân bố tự nhiên trong nước, vì vậy thị trường Việt Nam trước đây phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc. Nhằm chủ động nguồn dược liệu, từ năm 1956 đến nay, ngành y học cổ truyền nước nhà đã bắt đầu khai thác và đưa vào sử dụng hai loài cây bản địa để thay thế với tên gọi Sơn tra (hay Táo mèo hoặc Chua chát).

Trong thực tế sử dụng tại Việt Nam, Sơn tra Bắc thường được thay thế bằng hai loài bản địa là Malus doumeriDocynia indica

Phân biệt các loại sơn tra thường được sử dụng tại Việt Nam

Phân biệt các loại sơn tra thường được sử dụng tại Việt Nam

Vị thuốc này có nguồn gốc từ các loài thuộc chi Crataegus, hoàn toàn không sinh trưởng hay có vùng phân bố tự nhiên trong ranh giới địa lý của Việt Nam. Toàn bộ nguồn dược liệu chính chuẩn này từ trước đến nay đều phải thực hiện nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc được ghi nhận sử dụng tại các quốc gia châu Âu.

3 Đặc điểm thực vật

Bắc sơn tra (Crataegus pinnatifida Bunge): Là loài cây thân gỗ nhỏ với chiều cao trung bình khoảng 6m, trên các cành nhỏ thường xuất hiện gai. Bản lá có chiều dài dao động từ 5-10cm, bề ngang khoảng 4-7cm, phiến lá phân chia thành 3 thùy rõ rệt với phần mép khía răng cưa. Mặt dưới của lá, đặc biệt là dọc theo hệ thống gân lá, có phủ một lớp lông mịn; cuống lá dài khoảng 2-6cm. Hoa cấu tạo theo mẫu 5, mọc tụ hội lại thành các cụm tán; phần đài hoa có lông mịn bao phủ, cánh hoa sắc trắng và sở hữu 20 nhị. Quả dạng hình cầu với đường kính tương đối nhỏ, chỉ khoảng 1-1,5cm; khi bước vào giai đoạn chín, quả sẽ chuyển sang sắc đỏ thẫm.

Nam sơn tra / Dã sơn tra (Crataegus cuneata Sieb. et Zucc.): Loài cây này có tầm vóc lớn hơn khi có thể đạt chiều cao lên tới 15m, trên thân cành mọc những chiếc gai nhỏ dài khoảng 5-8mm. Lá có kích thước nhỏ hơn với chiều dài tầm 2-6cm, chiều rộng từ 1-4,5cm và được phân chia thành 3-7 thùy. Mặt dưới của lá ban đầu có lông mịn nhưng sau đó sẽ rụng dần và trở nên nhẵn nhụi. Hoa cũng theo mẫu 5, tụ thành tán, cánh hoa màu trắng và có 20 nhị. Quả có hình cầu với đường kính khoảng 1-1,2cm, khi chín sẽ ngả sang màu vàng hoặc màu đỏ.

4 Thu hái và chế biến

Bộ phận dùng: quả chín

Cách sử dụng Sơn tra: Quả được thu hái khi đã chín hoàn toàn. Sau khi loại bỏ tạp chất, quả được thái thành các lát cắt ngang hoặc bổ dọc, sau đó đem phơi dưới nắng hoặc sấy đến khô để bảo quản. Đây là dạng dược liệu được sử dụng phổ biến trong các bài thuốc y học cổ truyền cũng như trong một số chế phẩm dược.

Thu hái Sơn tra chín để làm dược liệu
Thu hái Sơn tra chín để làm dược liệu

5 Đặc điểm phân bố

Vị thuốc này có nguồn gốc từ các loài thuộc chi Crataegus, hoàn toàn không sinh trưởng hay có vùng phân bố tự nhiên trong ranh giới địa lý của Việt Nam. Toàn bộ nguồn dược liệu chính chuẩn này từ trước đến nay đều phải thực hiện nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc được ghi nhận sử dụng tại các quốc gia châu Âu.

6 Thành phần hóa học

Trong quả Sơn tra: Các phân tích khoa học ghi nhận sự có mặt của các axit hữu cơ tự nhiên bao gồm axit xitric và axit tactric. Bên cạnh đó, quả còn chứa hàm lượng Vitamin C dồi dào, các hợp chất thay hydrat cacbon, protit (với tỷ lệ khoảng 0,7%), chất béo (khoảng 0,2%), cùng hệ thống các chất khoáng thiết yếu như Canxi (0,085%), photpho (0,025%), Sắt (0,0021%) và caroten (0,00082%).

Trong hoa, lá và thân cây: Riêng đối với các loài sơn tra xuất xứ từ châu Âu, các nhà khoa học còn tìm thấy các thành phần đặc hiệu khác bao gồm cholin, axetylcholin, phytosterin cùng nhóm axit hữu cơ tritecpen (như axit ursolic, axit oleanoic và axit crataegic). Trong cụm hoa có chứa quexetin, quexitrin và tinh dầu, còn trong phần thân gỗ tồn tại hai hoạt chất đắng đặc trưng là crataegin và oxyacanthin.

7 Tác dụng của Sơn tra (Crataegi Fructus) theo y học hiện đại

Theo sách Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam, hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng về quả Sơn tra (Crataegi Fructus) của Việt Nam cũng như của Trung Quốc. Phần lớn các dữ liệu dược lý được công bố tập trung trên một số loài Sơn tra thuộc chi Crataegus, đặc biệt là Crataegus oxyacanthaCrataegus sanguinea.

Kết quả nghiên cứu của Pot Guốcxki B.B. (1951) và Checnưxep (1954) cho thấy các chế phẩm điều chế từ quả Sơn tra có ảnh hưởng rõ rệt lên hệ tim mạch. Dược liệu có khả năng làm tăng sức co bóp của cơ tim, giúp cải thiện hoạt động bơm máu của tim, đồng thời làm giảm tính kích thích của cơ tim, góp phần giúp hoạt động co bóp diễn ra ổn định hơn.

Ngoài tác dụng trực tiếp trên cơ tim, Sơn tra còn được ghi nhận làm tăng tuần hoàn máu tại động mạch vành nuôi tim và các mạch máu não, nhờ đó cải thiện sự tưới máu đến các cơ quan quan trọng. Các nghiên cứu cũng cho thấy dược liệu có khả năng làm tăng độ nhạy của tim đối với các glycosid trợ tim, từ đó hỗ trợ phát huy tác dụng của nhóm thuốc này trong điều trị bệnh tim mạch.

Không chỉ quả, hoa và lá của các loài Sơn tra, đặc biệt là Crataegus oxyacantha, cũng đã được sử dụng từ lâu trong y học dân gian và y học châu Âu để hỗ trợ điều trị các bệnh lý tim mạch. Các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng đều ghi nhận chế phẩm từ hoa và lá có tác dụng làm tăng lực co bóp của tim, điều hòa tuần hoàn và làm giảm trạng thái kích thích của hệ thần kinh, qua đó góp phần cải thiện chức năng tim và tuần hoàn.

Sự khác biệt trong ứng dụng của Sơn tra cũng được ghi nhận giữa hai nền y học. Theo y học hiện đại, Sơn tra được xem là dược liệu có tác dụng chủ yếu trên hệ tim mạch, hỗ trợ tăng cường tuần hoàn, cải thiện chức năng tim, đồng thời có tác dụng giảm đau và an thần. Trong khi đó, theo y học cổ truyền, Sơn tra lại được sử dụng chủ yếu với mục đích tiêu thực, hỗ trợ tiêu hóa và giảm tình trạng tích trệ thức ăn, đặc biệt sau khi ăn nhiều thịt hoặc các thực phẩm khó tiêu.

8 Công dụng quả Sơn tra (Crataegi Fructus) theo y học cổ truyền

8.1 Tính vị

Vị chua, ngọt, tính ôn.

8.2 Quy kinh

Quy vào kinh Tỳ, Vị và Can.

8.3 Công năng

Theo y học cổ truyền, Bắc sơn tra có tác dụng tiêu thực, đặc biệt giúp tiêu hóa các thức ăn nhiều thịt. Ngoài ra còn được dùng với mục đích hành khí, hóa ứ, hóa đờm, giải độc cá, hỗ trợ điều trị lỵ, tích khối, huyết khối và giảm đau.

Việc lạm dụng hoặc ăn quá nhiều vị thuốc này sẽ làm tổn hao chính khí và gây tổn hại đến răng. Những người có thể trạng gầy gò, suy nhược hoặc cơ thể đang mắc các chứng hư tổn thì tuyệt đối không nên dùng.

9 Bài thuốc từ quả Sơn tra (Crataegi Fructus)

Sơn tra được phơi khô, chế thành thuốc dược liệu
Sơn tra được phơi khô, chế thành thuốc dược liệu

Bài thuốc chữa ăn uống tích trệ, không tiêu: Sử dụng 10g Sơn tra phối hợp cùng với 6g chỉ thực, 5g Trần Bì và 2g Hoàng Liên. Đem tất cả sắc chung với 600ml nước cho đến khi cô đặc lại còn khoảng 200ml, chia lượng nước sắc này làm 3 lần uống hết trong ngày.

Bài thuốc hỗ trợ khi bị hóc xương cá: Lấy 15g Sơn tra cho vào nồi sắc thật đặc với 200ml nước. Sử dụng nước sắc này để ngậm trong miệng một lúc lâu trước khi nuốt từ từ xuống.

Bài thuốc trị bệnh ghẻ lở, nhiễm độc sơn: Dùng một lượng quả sơn tra thích hợp nấu với nước cho ra chất đặc, dùng nước này để ngâm, tầm hoặc tắm rửa trực tiếp lên vùng da tổn thương.

10 Tài liệu tham khảo

  1. Đỗ Tất Lợi. “ Sơn tra”. Sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. Trang 355-357
  2. Dược Điển Việt Nam 5. “Sơn tra Quả”. Tập 1. Trang 1319-1320.

Các sản phẩm có chứa dược liệu Sơn tra (Crataegi Fructus)

1/0
vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

0 SẢN PHẨM
ĐANG MUA
hotline
0927.42.6789