Dây ông lão (Clematis smilacifolia Wall.)
0 sản phẩm
Dược sĩ Tú Phương Dược sĩ lâm sàng
Ước tính: 0 phút đọc, Ngày đăng:
Cập nhật:
Nếu phát hiện nội dung không chính xác, vui lòng phản hồi thông tin cho chúng tôi tại đây
| Phân loại khoa học | |
|---|---|
| Giới(regnum) | Plantae (Thực vật) Angiospermae (Thực vật có hoa) Eudicots (Thực vật hai lá mầm thật sự) |
| Bộ(ordo) | Ranunculales |
| Họ(familia) | Hoàng liên (Ranunculaceae) |
| Chi(genus) | Clematis |
| Danh pháp hai phần (Tên khoa học) | |
Clematis smilacifolia Wall. | |

1 Giới thiệu
Tên khoa học: Clematis smilacifolia Wall.
Tên gọi khác: mộc thông, Vàng lá kim cang
Họ thực vật: Hoàng Liên (Ranunculaceae)
1.1 Đặc điểm thực vật
Dây ông lão có thân mọc trườn, bề mặt nhẵn, trên thân có có khía rõ. Lá là loại lá đơn, mọc đối; đôi khi xuất hiện dạng lá kép gồm ba lá chét hình tim, mép nguyên, đầu nhọn, chất lá dày và hơi dai. Cuống lá tương đối dài, thường xoắn lại.
Hoa mọc ở nách lá thành cụm, phổ biến nhất là cụm 3 hoa, hiếm gặp trường hợp chỉ có 1 hoa, ngoài ra cũng có thể tập hợp thành chùy ở phần ngọn. Hoa màu trắng, cuống hoa dài, vượt quá chiều dài của lá đài. Quả thuộc dạng quả bế, bề mặt có lông, hình mũi giáo, dẹt và nhọn, phần đầu kéo dài thành vòi nhụy mang nhiều lông mềm, dài, màu trắng.
Thời kỳ ra hoa chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 8, đôi khi có thể kéo dài sang tháng 12 đến tháng 3 năm sau; cây kết quả vào khoảng tháng 9–11.


1.2 Bộ phận dùng
Rễ và phần thân của cây Dây ông lão là những bộ phận được thu hái và sử dụng làm dược liệu, có tên gọi dược học là Radix et Caulis Clematidis smilacifoliae.
2 Đặc điểm phân bố và sinh thái
Chi Clematis L. hiện ghi nhận khoảng 15 loài phân bố tại Việt Nam, trong đó có 6 loài được sử dụng làm dược liệu, và dây ông lão là một đại diện tiêu biểu.
Về phân bố địa lý, dây ông lão xuất hiện khá phổ biến tại nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam, kéo dài vào khu vực miền Trung như Quảng Bình và xuống tới Kiên Giang ở phía Nam. Ngoài ra, loài này còn được tìm thấy ở nhiều quốc gia châu Á khác như Ấn Độ, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia và Philippines.
Về mặt sinh thái, cây thường mọc rải rác ở bìa rừng, ven đường đi, dọc theo các bờ suối hoặc những khu vực ẩm mát.
=>> Xem thêm: Cây Bìm cảnh (Ipomoea cairica) dùng để trị táo bón, viêm phổi, bí tiểu
3 Công dụng theo Y học cổ truyền
3.1 Tính vị, tác dụng
Rễ có vị đắng, tính bình, thiên về hơi ấm, nhờ đó phát huy tác dụng khu phong, trừ thấp, đồng thời thông kinh lạc và giảm đau.
Phần thân lại mang vị ngọt nhạt, hơi đắng, tính mát, thường được dùng với mục đích giảm viêm và hỗ trợ lợi tiểu.
Riêng hoa có vị nhạt, tính bình, tác dụng tương đối nhẹ.

=>> Xem thêm: Duyên Đơn (Hồng Đơn) - khoáng vật độc và công dụng chữa bệnh
3.2 Công dụng
Rễ dây ông lão được dân gian sử dụng trong các trường hợp đau lưng mỏi gối, khó tiêu, phù thũng hoặc đau răng. Liều dùng thông thường khoảng 6–12 g mỗi ngày, có thể sắc uống hoặc ngâm rượu để sử dụng.
Ngoài ra, toàn cây còn được nấu nước dùng tắm rửa ngoài da, hỗ trợ cải thiện tình trạng ghẻ ngứa.
Theo các tài liệu dược liệu của Ấn Độ, cụ thể được ghi nhận bởi Kirikar và cộng sự trong sách Indian Medicinal Plants (xuất bản năm 199, trang 5, Hehra Dun, Ấn Độ), nước sắc từ cây dây ông lão được sử dụng đường uống nhằm giảm các chứng đau nhức toàn thân.
4 Tài liệu tham khảo
- Tác giả Võ Văn Chi. Từ Điển Cây Thuốc Việt Nam (Bộ mới) Tập 1. Dây ông lão, trang 765. Tham khảo ngày 30 tháng 1 năm 2026.

