San Trắng (Cây Chân Vịt - Vitex peduncularis Wall. ex. Schauer)
0 sản phẩm
Dược sĩ Thùy Dung Dược sĩ lâm sàng
Ước tính: 1 phút đọc, Ngày đăng:
Nếu phát hiện nội dung không chính xác, vui lòng phản hồi thông tin cho chúng tôi tại đây
Phân loại khoa học | |
---|---|
Giới(regnum) | Plantae (Thực vật) Angiospermae (Thực vật có hoa) Eudicots (Thực vật hai lá mầm thật sự) Asterids (nhánh hoa Cúc) |
Bộ(ordo) | Lamiales (Hoa môi) |
Họ(familia) | Verbenaceae (Cỏ roi ngựa) |
Chi(genus) | Vitex |
Danh pháp hai phần (Tên khoa học) | |
Vitex peduncularis Wall. ex. Schauer |

San trắng thuộc dạng cây gỗ, chiều cao mỗi cây có khi lên đến 30 mét, cành phủ một lớp lông mịn, có màu xám tro. Lá có cuống mảnh, mang 3 lá chét, các lá chét có dạng hình mũi mác. Bài viết dưới đây, Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy (trungtamthuoc.com) sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin chi tiết.
1 Giới thiệu
Tên khoa học: Vitex peduncularis Wall. ex. Schauer
Tên gọi khác: Cây chân vịt.
Họ thực vật: Verbenaceae (Cỏ roi ngựa).
1.1 Đặc điểm thực vật

San trắng thuộc dạng cây gỗ, chiều cao mỗi cây có khi lên đến 30 mét, cành phủ một lớp lông mịn, có màu xám tro.
Lá có cuống mảnh, mang 3 lá chét, các lá chét có dạng hình mũi mác, phiến lá nguyên, gốc lá nhọn, mũi ở đầu, hai mặt của lá đều có tuyến nhỏ màu vàng nằm rải rác.
Hoa mọc thành chùy ở nách lá có cuống dài, mang nhiều xim con, mỗi xim con có 3 hoa, hoa cao khoảng 1cm, đài có dạng hình bán cầu, có nhiều tuyến, 5 răng rất ngắn, tràng có lông màu xám, môi dưới mọc chúc xuống dưới, nhị 4, bầu nhẵn.
Quả của cây San trắng thuộc dạng quả hạch có phấn, quả có màu lam nhạt, có 4 rãnh nông ở đỉnh.
1.2 Thu hái và chế biến
Bộ phận dùng: Vỏ thân, rễ, cành và lá.
1.3 Đặc điểm phân bố
San trắng được tìm thấy ở Myanmar, Bangladesh, Ấn Độ, Nepal, Campuchia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam. Tại nước ta, cây thường phân bố ở Nghệ An, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông.
San trắng thường sinh trưởng và phát triển trong những khu rừng thứ sinh, rừng thưa, độ cao phân bố khoảng từ 200 đến 1000 mét.
Thời điểm ra hoa là từ tháng 3 đến tháng 5, có quả từ tháng 5 đến tháng 8.
2 Thành phần hóa học

Vỏ và lá của cây San trắng có chứa vitexin.
Một iridoid mới có tên là pedunculariside, cùng với iridoid agnuside đã biết được phân lập từ chiết xuất butanol của vỏ thân cây San trắng. Cả pedunculariside và agnuside đều cho thấy khả năng ức chế ưu tiên COX-2, với giá trị IC50 lần lượt là 0,15 +/- 0,21 mg/ml và 0,026 +/- 0,015 mg/ml, trong khi chỉ có tác dụng ức chế nhỏ đối với COX-1. Cả hai hợp chất đều không biểu hiện độc tính đối với tế bào vero.
3 Tác dụng của cây San trắng
3.1 Tác dụng hạ sốt
Cây San trắng đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ như một loại thuốc để điều trị sốt rét và sốt đen. Sốt đen được gọi là Kara Azza ở Bangladesh, được gọi là bệnh leishmaniasis nội tạng do ký sinh trùng nguyên sinh của loài leishmania gây ra. Một sàng lọc sơ bộ các chiết xuất lá methanol của cây San trắng cho thấy hoạt động chống leishmaniasis đáng kể đối với leish-mania donovani.
3.2 Tác dụng chống viêm

Iridoid, pedunculariside và iridoid agnuside được phân lập từ vỏ thân của cây San trắng bằng chiết xuất butanol cho thấy khả năng ức chế COX-2 với giá trị IC50 lần lượt là 0,15 ± 0,21 mg/ml và 0,026 ± 0,015 mg/ml, chỉ có tác dụng ức chế nhỏ đối với COX-1.
Về đặc tính chống viêm tiềm tàng, chiết xuất methanol của vỏ thân làm giảm đáng kể nồng độ NO trong đại thực bào, ngoài ra, chiết xuất cũng thể hiện tác dụng ức chế đáng kể hoạt động của phospholipase A2.
3.3 Kháng khuẩn
Các dung môi hữu cơ khác nhau như methanol, chloroform đã được sử dụng với chiết xuất lá và thân từ cây San trắng đã được sàng lọc về hoạt tính kháng khuẩn đối với các tác nhân gây bệnh là vi khuẩn như Salmonella typhii, Salmonella typhimurium, Shigella exineri, Shigella boydic, Pseudomonas sp., Enterococcus sp., Enterobacter aeurogens, Escherichia coli, Chromobacterium violecum, Staphylococcus aureus, Proteus mirabilis, Klebsiella sp., và sáu tác nhân gây bệnh là nấm như Aspergillus niger, Aspergillus fumigatus, Aspergillus avus, Candida sp., Rhizopus sp., và Sclerotium sp.
4 Công dụng theo Y học cổ truyền
4.1 Tính vị, tác dụng
Thành phần alcaloid có trong lá cây thể hiện tác dụng ngăn cản sự phá hủy hồng cầu ở bệnh nhân sốt đen tại Ấn Độ.
4.2 Công dụng

Theo truyền thống, vỏ cây San trắng thường được dùng để sắc nước uống trong trường hợp đau khớp. Theo một số nhà khoa học, lá của Vitex peduncularis chứa các hợp chất như peduncularaside, iridoid, anguside, vitexin, triterpenoids và avonoids có tác dụng chống viêm. Các hoạt chất này cũng được biết đến với tác dụng tăng cường sức khỏe tim mạch bằng cách cải thiện lưu lượng máu và chất dinh dưỡng của cơ tim.
Nhân dân Ấn Độ thường dùng vỏ cây để làm thuốc đắp ngoài trong trường hợp bị đau ở vùng ngực.
Nước hãm từ lá hoặc vỏ rễ hay vỏ cành non thường dùng để trị sốt rét và bệnh sốt đen ở Ấn Độ.
Lá cây thường dùng khi bị sốt, có thể có hiệu quả khi uống sau ký ninh ở một số bệnh nhân sốt mà có liên quan đến bệnh Kala Azar.
Nhân dân ở Vân Nam của Trung Quốc thường dùng lá và rễ khi bị bệnh về mắt.
5 Tài liệu tham khảo
- Tác giả Võ Văn Chi. Từ điển cây thuốc Việt Nam tập 2. San trắng, trang 650-651. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.
- Tác giả A Suksamrarn và cộng sự (Ngày đăng tháng 1 năm 2002). Iridoids with anti-inflammatory activity from Vitex peduncularis, PubMed. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2025.