Ngải máu (Cẩm địa la - Kaempferia rotunda L.)
0 sản phẩm
Dược sĩ Trúc Ly Dược sĩ Lâm sàng
Ước tính: 1 phút đọc, Ngày đăng:
Cập nhật:
Nếu phát hiện nội dung không chính xác, vui lòng phản hồi thông tin cho chúng tôi tại đây
Phân loại khoa học | |
---|---|
Giới(regnum) | Plantae (Thực vật) Tracheophyta (Ngành thực vật có mạch) Liliopsida (Lớp Hành) |
Bộ(ordo) | Zingiberales (Gừng) |
Họ(familia) | Zingiberaceae (Gừng) |
Chi(genus) | Kaempferia L. |
Danh pháp hai phần (Tên khoa học) | |
Kaempferia rotunda L. | |
Danh pháp đồng nghĩa | |
Kaempferia rotundata L. |

Ngải máu có vị đắng, hơi hăng, mùi thơm, tính bình, tác dụng vào hai kinh can và tâm. Công dụng chính bao gồm bổ huyết, điều kinh, làm ấm và giảm đau. Bài viết dưới đây, Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy (trungtamthuoc.com) sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin chi tiết.
Tên khoa học: Kaempferia rotunda L.
Tên khác: Tam Thất nam, cẩm địa la
Họ: Gừng (Zingiberaceae).
1 Đặc điểm thực vật
Cây thuộc loại thân thảo, chiều cao từ 30 đến 40 cm. Thân rễ có hình cầu, mang nhiều rễ nhỏ dạng sợi, kết thúc bằng các củ con hình trứng. Lá mọc thẳng từ thân rễ, phát triển sau khi hoa nở, có hình bầu dục mũi mác, chiều dài khoảng 30-40 cm, chiều rộng 5-6 cm. Lá có gốc thuôn kèm bẹ, đầu nhọn, mặt trên xuất hiện các vệt xám loang lổ, mặt dưới có một ít lông rải rác, cuống lá hình máng.
Hoa mọc tụ lại ở phần gốc của thân rễ, không có cuống, màu tím. Đài hoa có dạng ống với ba răng, các cánh hẹp và nhọn. Tràng hoa có cánh thuôn dài, cánh môi hình trái Xoan gần tròn, chia thành hai thùy nhọn. Bao phấn có phần trung đới giống đuôi én, nhị lép nhỏ, bầu hoa nhẵn.
Mùa hoa quả: Tháng 4 đến tháng 5.

2 Phân bố và sinh thái
2.1 Phân bố
Chi Kaempferia L. gồm khoảng 40 loài, phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới Nam Á, Đông Nam Á, Trung Quốc và một số đảo thuộc vùng Molluca. Tại Thái Lan có 15 loài, Malaysia 7 loài và Việt Nam 9 loài. Một số loài trong chi này được nhân giống và trồng rộng rãi để làm dược liệu, trong đó có cây ngải máu.
Ngải máu có nguồn gốc từ vùng Đông Dương, sau đó lan rộng khắp khu vực nhiệt đới châu Á, bao gồm Ấn Độ, Malaysia, Indonesia, Philippines, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, và cả Trung Quốc.
Tại Việt Nam, cây được trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc. Các tỉnh miền Nam ít trồng hơn.
2.2 Sinh thái
Ngải máu thích nghi với điều kiện ẩm, hơi chịu bóng, thường được trồng xen trong các vườn cây ăn quả.
Cây phát triển mạnh vào mùa xuân-hè. Cuối thu hoặc đầu đông, phần trên mặt đất tàn lụi. Sang giữa mùa xuân năm sau, cây bắt đầu ra hoa, mỗi ngày có thể ra từ 1-3 bông, hoa chỉ tồn tại trong một ngày. Thân rễ có khả năng đẻ nhánh mạnh mẽ, tạo ra các củ con được sử dụng làm giống hoặc làm thuốc.

3 Bộ phận sử dụng
Sử dụng chủ yếu thân rễ.
4 Thành phần hóa học của cây Ngải máu
Thân rễ chứa khoảng 0,2% tinh dầu, có màu vàng nhạt, mùi hơi khó chịu. Các thành phần chính gồm cineol và có khả năng chứa methyl chavicol. Ngoài ra, thân rễ còn chứa các diepoxide cyclohexan (I, II, III), cretepoxyd, (-) zeylenol, benzyl benzoat.
Một số chất trong thân rễ như benzyl benzoat và cretepoxyd có tác dụng diệt côn trùng.

5 Công dụng trong dân gian của cây Ngải máu
5.1 Tính vị và công năng
Ngải máu có vị đắng, hơi hăng, mùi thơm, tính bình, tác dụng vào hai kinh can và tâm. Công dụng chính bao gồm bổ huyết, điều kinh, làm ấm và giảm đau.
5.2 Công dụng
Điều trị kinh nguyệt không đều, kinh bế, Đau Bụng Kinh, máu xấu, kinh ít, người gầy, da sạm.
Giảm đau dạ dày, hỗ trợ điều trị đại tiện ra máu.
Trong y học dân gian Ấn Độ, ngải máu được dùng để chữa sưng, u, vết thương. Dịch ép từ thân rễ trị phù tay chân, tràn dịch khớp, ho đờm. Tuy nhiên, có thể gây chảy nước bọt và nôn.
Tại Indonesia, ngải máu được sử dụng trị đau bụng, làm mát cơ thể và ngăn sốt.
Ở Philippines và Malaysia, cây hỗ trợ làm lành vết thương và trị đau dạ dày.
5.3 Bài thuốc từ ngải máu
Chữa đau bụng lạnh, đầy trướng, khó tiêu, sốt rét
Thành phần: Ngải máu, hậu phác nam, Trần Bì, Bán Hạ chế, nghệ đen, Chỉ Xác, rẻ quạt, hạt cau, vỏ rút (mỗi vị 12g), thảo quả (6g).
Cách dùng: Sắc nước uống.

6 Tài liệu tham khảo
Tác giả Đỗ Huy Bích. Cây Thuốc Và Động Vật Làm Thuốc ở Việt Nam tập 2. Ngải máu, trang 368-370. Truy cập ngày 06 tháng 3 năm 2025.