0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

VIÊM KHỚP DẠNG THẤP: NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ

Lượt xem: 2543 Ngày đăng Ngày cập nhật
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/viem-khop-dang-thap
TrungTamThuoc

Đặc điểm nổi bất của viêm khớp dạng thấp là viêm đa khớp đối xứng dai dẳng, ảnh hưởng đến cả bàn tay và bàn chân. Mức độ nghiêm trọng của bệnh thay đổi theo thời giam, viêm khớp dạng thấp mạn tính phổ biến nhất là gây hủy hoại khớp, biến dạng và giảm chức năng.

1 Viêm khớp dạng thấp là gì?

Viêm khớp dạng thấp là bệnh tự miễn hệ thống đặc trưng bởi các khớp bị đau, sưng có thể làm suy giảm nghiêm trọng thể chất và chất lượng cuộc sống. Trong viêm khớp dạng thấp, người bệnh có thể có một số khớp bị viêm vĩnh viễn, dần dần bị biến dạng và cứng và cơ bắp cũng sẽ yếu dần.

viêm khớp dạng thấp gây ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống.

Viêm khớp dạng thấp gây ảnh hưởng nặng nề đến chất lượng cuộc sống.

2 Nguyên nhân gây viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp là bệnh tự miễn với nguyên nhân vẫn chưa được biết rõ, thường là ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền, môi trường, nội tiết tố, miễn dịch và nhiễm trùng.

Người ra thấy rằng, khả năng di truyền của viêm khớp dạng thấp chiếm khoảng 50% và thường liên quan đến các alen HLA.

Các tác nhân truyền nhiễm được cho là nguyên nhân tiềm ẩn của viêm khớp dạng thấp như Mycoplasma, virus Epstein-Bar, virus Rubella...

Hormone giới tính cũng đóng vai trò trong bệnh viêm khớp dạng thấp, trong đó cường prolactin máu là một yếu tố nguy cơ.

Ngoài ra, người ra còn nhận thấy rằng những người thường xuyên hút Thuốc lá có nguy cơ bị viêm khớp dạng thấp cao hơn. Đồng thời, các yếu tố kinh tế xã hội, tâm lý và lối sống cũng ảnh hưởng đến sự tiến triển của viêm khớp dạng thấp.

3 Biểu hiện lâm sàng và chẩn đoán viêm khớp dạng thấp

Đặc điểm nổi bất của viêm khớp dạng thấp là viêm đa khớp đối xứng dai dẳng, ảnh hưởng đến cả bàn tay và bàn chân. Mức độ nghiêm trọng của bệnh thay đổi theo thời giam, viêm khớp dạng thấp mạn tính phổ biến nhất là gây hủy hoại khớp, biến dạng và giảm chức năng.

Không những thế, viêm khớp dạng thấp còn gây tổn thương các bộ phận ngoài khớp như da, tim, phổi và mắt. Trong đó, người bệnh thường bị viêm màng ngoài tim, loạn nhịp tim, viêm cơ tim, xơ phổi, tràn dịch màng phổi, khô mắt, viêm đa dây thần kinh và mạch máu...

Biểu hiện toàn thân trong viêm khớp dạng thấp gồm mệt mỏi, khó chịu, cứng khớp vào buổi sáng, sụt cân, có thể sốt nhẹ. Ở hầu hết người bệnh, viêm khớp dạng thấp khởi phát ngấm ngầm, cũng có thể khởi phát với các triệu chứng toàn thân trước khi có viêm khớp và sưng.

Viêm khớp dạng thấp được chẩn đoán như thế nào?

Viêm khớp dạng thấp được chẩn đoán như thế nào?

Viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán theo tiêu chí của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR) năm 1987, nếu người bệnh có 3 trong 7 yếu tố sau:

  1. Người bệnh bị cứng khớp vào buổi sáng với thời gian lâu hơn 1 giờ.

  2. Viêm sưng mô mềm hoặc tràn dịch ít nhất 3 trong số 14 khớp đối xứng gồm: Khớp liên đốt gần bàn tay, khớp bàn ngón chi trên, khớp cổ tay, cổ chân, khớp bàn ngón chi dưới, khớp khuỷu hoặc khớp gối.
  3. Người bệnh sưng ít nhất 1 nhóm trong các khớp chi trên như khớp cổ tay, ngón gần, bàn ngón tay.
  4. Có biểu hiện viêm các khớp đối xứng với nhau.
  5. Ở dưới da xuất hiện các u, hạt.
  6. Khi xét nghiệm huyết thanh, cho kết quả dương tính với yếu tố dạng thấp.
  7. Khi chụp X-quang thấy dấu hiệu điển hình là hiện tượng bào mòn, dạng hốc, khuyết đầu xương, hẹp khe khớp, chất khoáng đầu xương không còn.

Ngoài ra, bệnh nhân cần được kiểm tra các triệu chứng ngoài khớp như teo cơ, viêm mắt, nốt dưới da, tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi...   

Viêm khớp dạng thấp cũng có thể được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, trước khi có tổn thương khớp trên X-quang theo tiêu chí ACR/EULAR 2010 như sau:

Với biểu hiện tại khớp:

  • Người bệnh bị ảnh hưởng từ 2 đến 10 khớp lớn = 1 điểm.
  • Ảnh hưởng từ 1 đến 3 khớp nhỏ, có thể ảnh hưởng đến khớp lớn hoặc không = 2 điểm.
  • Biểu hiện ở 4 đến 10 khớp nhỏ, có ảnh hưởng đến khớp lớn hoặc không = 3 điểm.
  • Biểu hiện trên 10 khớp trong đó có ít nhất 1 khớp nhỏ = 5 điểm.
  • Một trong hai yếu tố thấp khớp hoặc anti CCP dương tính thấp = 2 điểm, dương tính thấp tức là có giá trị bằng 1 đến 3 lần bình thường.
  • Yếu tố thấp khớp hoặc anti CCP dương tính cao = 3 điểm, dương tính cao khi kết quả lớn hơn trên 3 lần bình thường.
  • Trong giai đoạn cấp, CRP hoặc tốc độ máu lắng tăng = 1 điểm.
  • Thời gian xuất hiện các triệu chứng từ 6 tuần trở lên = 1 điểm.

Nếu bệnh nhân có từ 6 điểm trở lên thì xác định là viêm khớp dạng thấp.

Cần phân biệt viêm khớp dạng thấp với lupus ban đỏ hệ thống, thoái hóa khớp, hay bệnh gout, bệnh viêm khớp khác...

4 Điều trị viêm khớp dạng thấp như thế nào?

Trong điều trị viêm khớp dạng thấp, người bệnh cần được điều trị toàn diện theo dõi thường xuyên và lâu dài. Trong đó các thuốc điều trị cơ bản DMARDs kinh điển có vai trò quan trọng giúp ổn định bệnh và điều trị kéo dài. Các thuốc sinh học như thuốc kháng TNF-α, kháng Interleukin-6, kháng lympho B nếu bệnh nhân viêm khớp dạng thấp nặng hoặc điều trị trên không hiệu quả.

Viêm khớp dạng thấp được điều trị như thế nào?

Viêm khớp dạng thấp được điều trị như thế nào?

4.1 Điều trị triệu chứng của viêm khớp dạng thấp

Mục đích của việc điều trị này để cải thiện tình trạng viêm, giảm đau, và giúp người bệnh duy trì được khả năng vận động.

  • Thuốc chống viêm không steroid ức chế chọn lọc COX - 2 điều trị dài ngày cho người bệnh viêm khớp dạng thấp bao gồm celecoxibmeloxicametoricoxib.

  • Hoặc bệnh nhân viêm khớp dạng thấp dụng thuốc chống viêm ức chế không chọn lọc gồm diclofenacpiroxicam -cyclodextrin theo hướng dẫn.
  • Các corticoid được điều trị ngắn hạn cho người bệnh viêm khớp dạng thấp, khi có đợt tiến triển như sau:

+ Người bệnh viêm khớp dạng thấp vừa cho dùng methylprednisolon với liều mỗi ngày từ 16 đến 32 mg, uống sau ăn lúc 8 giờ sáng.

+ Trường hợp viêm khớp dạng thấp nặng, tiêm tĩnh mạch methylprednisolon với liều mỗi ngày 40mg.

+ Người bệnh viêm khớp dạng thấp cấp, nặng, nguy hiểm tính mạng, khởi đầu điều trị với methylprednisolon liều 500-1000mg truyền tĩnh mạch mỗi ngày 30 đến 45p, trong 3 ngày. Sau đó hạ xuống liều thông thường, mỗi tháng có thể lặp lại 1 lần nếu cần thiết.

  • Với bệnh nhân phụ thuộc corticoid hay suy thượng thận do corticoid, điều trị dài hạn, khởi đầu với liều uống 20mg/ngày lúc 8 giờ sáng. Sau đó, giảm dần và duy trì liều thấp nhất  dưới 5mg/ngày hay cách ngày hoặc ngừng thuốc khi điều trị cơ bản có đáp ứng.

4.2 Liệu pháp điều trị cơ bản trong viêm khớp dạng thấp

Để làm chậm hoặc ngưng tiến triển viêm khớp dạng thấp cần sử dụng liệu pháp điều trị cơ bản lâu dài và theo dõi triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng.

Đối với những người bệnh viêm khớp dạng thấp mới mắc, thông thường thì sử dụng phác đồ điều trị như sau:

  • Methotrexate được bắt đầu cho người bệnh viêm khớp dạng thấp với liều duy nhất 10 mg/tuần, có thể điều chỉnh tùy đáp ứng nhưng tối đa là 20 mg/tuần.
  • Hoặc sulfasalazine, đối tượng viêm khớp dạng thấp dùng mỗi ngày 500 mg, mỗi tuần tăng 500 mg, liều duy trì là 1000 mg/lần, mỗi ngày 2 lần.
  • Hoặc có thể phối hợp methotrexate với hydroxychloroquine hoặc sulfasalazine hoặc phối hợp cả 3 thuốc này.

Đối với người bệnh viêm khớp dạng thấp nặng, sau 6 tháng điều trị bằng phác đồ điều trị cơ bản kinh điển mà không hiệu quả cần phối hợp thuốc sinh sau:

  • Phối hợp methotrexate cùng thuốc kháng yếu tố hoại tử U là anti TNF-α.
  • Methotrexate với liều 10-15 mg cả tuần và etanercept tiêm dưới da 1 lần/tuần với liều 50mg.  Hoặc thay thế entercept bằng inflixima tiêm tĩnh mạch với liều 2 đến 3mg/kg cứ 4 đến 8 tuần.
  • Hoặc methotraxate liều như trên và phối hợp thuốc kháng Interleukin-6 là tocilizumab truyền tĩnh mạch 4–8mg/kg/tháng, hàng tháng.
  • Hoặc phối hợp methotrexate liều giống ở trên và rituximab với 2 lần truyền tĩnh mạch liều 500–1000mg cách nhau 2 tuần, mỗi năm có thể dùng 1 đến 2 liệu trình.

Viêm khớp dạng thấp cần được theo dõi và điều trị lâu dài.

Viêm khớp dạng thấp cần được theo dõi và điều trị lâu dài.

4.3 Các phương pháp điều trị phối hợp trong viêm khớp khớp dạng thấp

Người bệnh cần được tập luyện, vận động tránh tình trạng dính khớp, nếu bệnh nhân viêm cấp cần cho khớp nghỉ với tư thế cơ năng, không kê, độn. Khi triệu chứng viêm đã giảm, người bệnh cần luyện tập ngay với cường độ tăng dần theo chức năng sinh lý của khớp.

Người bệnh viêm khớp dạng thấp có thể được điều trị bằng phương pháp vật lý trị liệu, phẫu thuật khi có chỉ định. Trong quá trình điều trị cần tránh các biến chứng có thể xảy ra như viêm loét dạ dày - tá tràng bằng thuốc ức chế bơm proton, và đề phòng loãng xương.

Bệnh nhân viêm khớp dạng thấp cần theo dõi định kỳ theo yêu cầu bác sĩ trong quá trình điều trị, phát hiện kịp thời tổn thương và đánh giá hiệu quả.

Trên đây là các thông tin cơ bản về nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị viêm khớp dạng thấp, hy vọng sẽ hữu ích với bạn đọc.


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......