0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Các loại thuốc điều trị HIV mới nhất hiện nay

Các loại thuốc điều trị HIV mới nhất hiện nay

, 11 phút đọc

, Cập nhật:
Xem:
430

Trungtamthuoc.com-HIV là căn bệnh thế kỷ gây suy giảm hệ thống miễn dịch ở người. Hiện nay chưa có thuốc đặc trị căn bệnh này nên người bị nhiễm HIV sẽ phải sống chung với bệnh cả đời, khiến họ cảm thấy rất mặc cảm, tự ti với những người xung quanh. HIV nếu không được dùng thuốc kháng virus kịp thời, hệ miễn dịch sẽ dần suy yếu, cơ thể dễ bị ốm, mắc bệnh, sức khỏe suy giảm. Vậy có những loại thuốc nào được sử dụng trong điều trị HIV? Hãy cùng Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy tìm hiểu kỹ hơn về các loại thuốc chống HIV qua bài viết dưới đây. 

1 Vài nét về HIV

1.1 HIV là gì?

Virus HIV xâm nhập vào cơ thể gây suy giảm hệ thống miễn dịch
Virus HIV xâm nhập vào cơ thể gây suy giảm hệ thống miễn dịch

HIV (Human Immunodeficiency Virus) là một loại virus gây suy giảm hệ miễn dịch, tấn công trực tiếp vào tế bào khỏe mạnh khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng và mắc bệnh hơn. Hiện nay chưa có phương pháp đặc hiệu để điều trị HIV nên khi đã bị nhiễm thì bệnh sẽ theo bạn suốt cả đời. 

1.1.1 Con đường lây nhiễm HIV

  • Lây truyền qua đường máu: Virus HIV xuất hiện ở tất cả các yếu tố của máu như hồng cầu, huyết tương, tiểu cầu và các yếu tố gây đông máu. Chính vì thế, HIV sẽ lây lan nhanh chóng thông qua máu và các thành phần của máu có nhiễm HIV. Do đó, mọi người khi vô tình tiếp xúc với máu của người bệnh thì nguy cơ phơi nhiễm HIV là rất cao.
  • Lây truyền qua đường tình dục: Khi quan hệ, bạn tình không nhiễm HIV bị dính dịch tiết sinh dục hoặc máu của người nhiễm bệnh thì khả năng cao sẽ bị lây virus HIV. Mọi hình thức quan hệ qua đường âm đạo, hậu môn, miệng với người bị nhiễm HIV đều tiềm ẩn nguy cơ mắc bệnh. Nữ giới là người nhận tinh dịch của nam giới nên nguy cơ bị lây bệnh cũng cao hơn.
  • Lây truyền từ mẹ sang con: Trong quá trình mang thai, virus HIV trong máu người mẹ vào rau thai để đi đến cơ thể thai nhi nên nguy cơ mắc bệnh của trẻ đẻ ra từ những thai phụ bị nhiễm HIV là rất cao. Với trẻ sinh thường, virus HIV có thể từ nước ối, dịch âm đạo xâm nhập vào bên trong cơ thể trẻ. Với mẹ cho con bú thì virus có thể qua sữa, vết thương ở núm vú để đi vào cơ thể khi trẻ có tổn thương ở miệng.

1.2 Ảnh hưởng của HIV đối với hệ miễn dịch

Hệ miễn dịch là nơi sản sinh ra các tế bào bạch cầu chống lại sự xâm nhập của các yếu tố gây nhiễm trùng trong cơ thể. Virus HIV khi xâm nhập vào cơ thể sẽ nhân lên thành nhiều bản sao để xâm chiếm các tế bào khỏe mạnh. Theo thời gian, bạch cầu không đủ khả năng bắt kịp với sự nhân lên mạnh mẽ của virus sẽ khiến cho hệ thống miễn dịch dần suy yếu. Từ đó khiến cơ thể dễ bị ốm, mắc bệnh ngay cả với các yếu tố gây nhiễm trùng thông thường.

2 Giới thiệu về thuốc điều trị HIV

2.1 Thuốc điều trị HIV là gì?

Thuốc chống HIV ngăn chặn virus nhân lên mạnh mẽ trong cơ thể
Thuốc chống HIV ngăn chặn virus nhân lên mạnh mẽ trong cơ thể

Thuốc trị HIV là nhóm thuốc kháng virus có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus HIV trong cơ thể, ngăn ngừa virus lan rộng, gây tổn thương cho nhiều cơ quan, ngăn ngừa nhiễm trùng, từ đó giúp nâng cao chất lượng sống của người bệnh. Ngoài ra, các thuốc điều trị HIV còn giúp giảm thiểu nguy cơ lây bệnh cho người khác khi sử dụng đúng theo hướng dẫn, chỉ định của bác sĩ.

2.1.1 Mục tiêu điều trị của các thuốc kháng virus HIV

  • Kiểm soát sự phát triển, nhân lên của virus.
  • Cải thiện, tăng cường hoạt động của hệ thống miễn dịch.
  • Làm giảm các triệu chứng cả bệnh HIV.
  • Phòng ngừa lây nhiễm HIV cho những người xung quanh.[1]

Khi nào có thuốc trị HIV? Có thuốc điều trị HIV chưa? Các thuốc kháng virus HIV (ARV) chỉ giúp kiểm soát sự nhân lên của virus, ngăn ngừa bệnh tiến triển nặng hơn chứ không có tác dụng điều trị đặc hiệu, chữa khỏi hoàn toàn bệnh HIV. Mới đây, Mỹ công bố việc tìm ra hướng sản xuất thuốc chữa HIV trong vài năm tới. Do đó hiện tại vẫn chưa có thuốc chữa HIV 2022. Chính vì thế, trong khi chờ đợi tương lai sẽ có thuốc chữa HIV thì người bệnh sau khi được chẩn đoán nhiễm HIV nên bắt đầu sử dụng ARV càng sớm càng tốt để phòng ngừa nhiễm trùng và các biến chứng nguy hiểm đến sức khỏe do virus HIV phát triển mạnh gây ra. Việc trì hoãn dùng thuốc khiến virus tiếp tục nhân lên, phá hủy hệ thống miễn dịch, làm tăng nguy cơ dẫn đến AIDS-hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải gây mất khả năng bảo vệ tự nhiên của cơ thể trước các yếu tố gây bệnh.

2.2 Các loại thuốc điều trị HIV

Các thuốc ARV giúp ức chế sự nhân lên của virus HIV
Các thuốc ARV giúp ức chế sự nhân lên của virus HIV

Hiện nay có rất nhiều nhóm thuốc kháng virus HIV (ARV) được sử dụng trong liệu pháp kháng virus (ART) để điều trị HIV. Trong đó có 2 nhóm thuốc có tác dụng ức chế quá trình xâm nhập của virus HIV vào cơ thể, 3 nhóm ức chế quá trình sao chép ngược của virus và các nhóm còn lại có công dụng ức chế các enzym mà virus HIV cần để nhân lên bên trong tế bào người. Cụ thể các nhóm thuốc điều trị HIV tốt nhất hiện nay gồm:[2]

2.2.1 Nhóm ức chế men sao chép ngược Nucleosid (NNRTI)

NRTI có tác dụng ức chế một trong các loại enzym (men sao chép ngược) mà virus HIV cần cho quá trình tạo thành các bản sao từ chính nó. Từ đó giúp ức chế quá trình nhân lên của virus, giữ cho tải lượng virus dy trì ở mức thấp nhất trong máu. Một số thuốc trị HIV dứt điểm ức chế mẹ sao chép ngược có thể kể đến là: Lamivudine hay 3TC (Epivir), Abacavir hay ABC (Ziagen), Tenofovir disoproxil fumarate hay TDF (Viread), Emtricitabine hay FTC (Emtriva), Didanosine hay ddl (Videx), Tenofovir alafenamide hay TAF (Vemlidy).

Viread-thuốc kháng virus HIV tiêu biểu của nhóm Ức chế men sao chép ngược Nucleoside

2.2.2 Nhóm ức chế men sao chép ngược không Nucleoside (NNRTI)

NNRTI có khả năng kết hợp với protein làm thay đổi một trong các loại enzym (men sao chép ngược) mà virus HIV cần để hình thành lên các bản sao của nó. Các thuốcngừa HIV ức chế men sao chép ngược không Nucleoside có thể kể đến là: Etravirine hay ETR (Intelence), Cabotegravir/rilpivirine (Cabenuva), Nevirapine hay NVP (Viramune), Efavirenz hay EFV (Sustiva), Rilpivirine hay RPV (Edurant), Drotaverine hay DOR (Pifeltro), Delavirdine hay DLV (Rescriptor).

2.2.3 Nhóm ức chế protease (PI)

PI là nhóm thuốc ức chế một loại protein mà virus HIV cần để liên kết các phân tử virus bản sao của nó kết hợp lại với nhau. Vì thế giúp ngăn chặn sự phát triển, ức chế sự nhân lên của virus trong cơ thể. Các thuốc ức chế HIV protease bao gồm: Fosamprenavir hay FPV (Lexiva), Nelfinavir hay NFV (Viracept), Atazanavir hay ATV (Reyataz), Ritonavir hay RTV (Norvir), Darunavir hay DRV (Prezista), Lopinavir + ritonavir hay LPV/r (Kaletra), Indinavir hay IDV (Crixivan).

Lexiva giúp virus không tạo được bản sao của chính nó, ức chế sự nhân lên của virus

2.2.4 Nhóm ức chế tích hợp

Chất ức chế tích hợp hay chất chuyển sợi tích hợp (INSTI) là nhóm thuốc cố tác dụng ức chế một loại protein giúp đưa ADN của virus vào ADN của các tế bào khỏe mạnh trong cơ thể để tạo ra các nhân bản của chính nó. Đây cũng chính là cách virus nhân lên mạnh mẽ trong cơ thể. Các thuốc điều trị HIV mới nhất thuộc nhóm ức chế tích hợp gồm có: Dolutegravir hay DTG (Tivicay), Bictegravir hay BIC, Elvitegravir hay EVG (Vitekta), Cabotegravir + rilpivirine (Cabenuva), Raltegravir hay RAL (Isentress), Cabotegravir (Vocabria) .

Thuốc kháng virus HIV - Vocabria

2.2.5 Nhóm ức chế kết hợp

Các thuốc này có khả năng ngăn chặn sự xâm nhập của của virus gây bệnh tiến sâu vào bên trong các tế bào khỏe mạnh, chúng thường hoạt động trên bề mặt của các tế bào bị nhiễm bệnh để virus tại do không thể lan rộng sang các khu vực khác. Thuốc đặc trị HIV điển hình của nhóm này là Enfuvirtide hay T-20 (Fuzeon).

2.2.6 Nhóm đối kháng CCR5

Cùng chung cơ chế tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của virus vào các tế bào khỏe mạnh như nhóm thuốc ức chế kết hợp, tuy nhiên nhóm thuốc đối kháng CCR5 lại ngăn chặn không cho các gai của virus cắm vào các tế bào để phát triển, gây bệnh cho cơ thể. Maraviroc hay MVC (Selzentry) là thuốc đại diện của nhóm này.

2.2.7 Nhóm kháng thể đơn dòng

Đây là một trong các nhóm thuốc chữa khỏi HIV 2021 dành riêng cho người trưởng thành đang phải sống chung với bệnh, người mang virus HIV đã kháng nhiều loại thuốc, dùng thử nhiều loại thuốc chống HIV mà vẫn không có đáp ứng. Ibalizumab-uiyk (Trogarzo) là thuốc đại biểu cho nhóm thuốc trị HIV mới nhất hiện nay này với tác dụng ngăn không cho các virus HIV lây sang những tế bào khỏe mạnh chưa bị nhiễm bệnh.

Trogarzo thuốc kháng virus HIV thế hệ mới

2.2.8 Nhóm tăng cường dược lý

Các thuốc nhóm tăng cường dược lý khi dùng chung với các thuốc kháng virus khác có tác dụng tăng cường nồng độ hấp thu của các thuốc đó, giúp tăng hiệu quả điều trị đồng thời kéo theo cả sự gia tăng tác dụng không mong muốn của thuốc. Cụ thể:

  • Ritonavir (RTV) dùng liều thấp giúp làm tăng nồng độ thuốc lopinavir (LPV) và  LPV/r ( Kaletra ) trong máu.
  • Cobicistat (Tybost) cũng gây tác dụng tương tự khi dùng đồng thời với elvitegravir, darunavir và atazanavir.

2.2.9 Kết hợp thuốc trong điều trị HIV

Các thuốc kháng HIV kết hợp là các thuốc chứa 2-3 loại thuốc kháng virus kết hợp với nhau trong điều trị, có thể là kết hợp cùng nhóm hoặc khác nhóm. Việc kết hợp thuốc giúp tăng cường hiệu quả kháng virus, giúp ức chế sự nhân lên của chúng bên trong cơ thể.

Các cách kết hợp thuốc phổ biến nhất hiện nay là:

  • Dolutegravir + Abacavir + Lamivudine hay DTG/ABC/3TC (Triumeq).
  • Dolutegravir + Lamivudine hay DTG/3TC (Dovato).
  • Bictegravir + Tenofovir alafenamide + Emtricitabine hay BIC/TAF/FTC (Biktarvy).
  • Elvitegravir + Cobicistat + Tenofovir alafenamide + Emtricitabine hay EVG/c/TAF/FTC (Genvoya).
  • Dolutegravir + rilpivirine hay DTG/RPV (Juluca).
  • Darunavir + cobicistat + Tenofovir alafenamide + Emtricitabine hay DRV/c/TAF/FTC (Symtuza).
  • Efavirenz + Tenofovir disoproxil fumarate + Emtricitabine hay EFV/TDF/FTC (Atripla).
  • Doravirine + Tenofovir disoproxil fumarate + Lamivudine hay DOR/TDF/3TC (Delstrigo).
  • Atazanavir + cobicistat hay ATV/c (Evotaz).
  • Rilpivirine + Tenofovir alafenamide + Emtricitabine hay RPV/TAF/FTC (Odefsey).
  • Abacavir + Lamivudine + Zidovudine hay ABC/ 3TC/ZDV (Trizivir).
  • Rilpivirine + Tenofovir disoproxil fumarate + Emtricitabine hay RPV/TDF/FTC (Complera).
  • Zidovudine + Lamivudine hay ZDV/3TC (Combivir).
  • Abacavir + Lamivudine hay ABC/3TC (Epzicom).
  • Tenofovir disoproxil fumarat + Emtricitabine hay TDF/FTC (Truvada).
  • Tenofovir alafenamide + Emtricitabine hay TAF/FTC (Descovy).
  • Tenofovir disoproxil fumarat + Lamivudine hay TDF/3TC (Cimduo).
Thuốc kháng virus HIV phối hợp giúp tăng hiệu quả ức chế sự nhân lên của virus

2.3 Phác đồ điều trị HIV

Dưới đây là phác đồ điều trị HIV của Bộ Y tế theo Nghị định 5968/QĐ-BYT:

2.3.1 Phác đồ điều trị HIV-ARV bậc 1

Phác đồ điều trị ARV bậc 1 dành riêng cho những đối tượng chưa từng điều trị bằng ARV hoặc người nhiễm bệnh đã được điều trị bằng các thuốc kháng virus ARV mà không có bằng chứng cụ thể về việc thất bại trong điều trị. Thứ tự ưu tiên sử dụng phác đồ ARV bậc 1 như sau:

  • Phác đồ điều trị ưu tiên.
  • Các đối tượng không có hoặc thuộc trường hợp chống chỉ định sử dụng phác đồ điều trị ưu tiên: Chuyển sang điều trị bằng phác đồ thay thế. 
  • Các đối tượng không có hoặc trường hợp không thể sử dụng cả phác đồ điều trị ưu tiên lẫn phác đồ thay thế thì chuyển sang điều trị bằng phác đồ đặc biệt.

Dưới đây là bảng các phác đồ điều trị ARV bậc 1:

Đối tượngPhác đồ điều trị ưu tiênPhác đồ điều trị thay thếPhác đồ điều trị đặc biệt
Trẻ sơ sinh <4 tuần tuổiAZT/ABC + RAL(1) + ABCAZT + NVP + 3TCAZT + 3TC + LPV/r(2)
Trẻ <10 tuổiABC + 3TC + DTG(3)TAF(4) + 3TC/FTC + DTG(3)
ABC+3TC+ LPV/r
 

AZT + 3TC + EFV(5)/NVP

ABC + 3TC + EFV(5)/NVP

AZT + 3TC + RAL hoặc LPV/r

ABC + 3TC + RAL

Ngưởi >10 tuổi, bao gồm cả phụ nữ mang thai, bà bầu cho con búTDF + FTC/3TC + DTG(6)TDF + EFV + 3TCTDF + FTC/3TC + Pl/r
TDF + FTC/3TC + RAL
TDF(7) + FTC/3TC + DTG(6)
DTG(6) + 3TC + ABC

Trong đó:

(1): Đối tượng là trẻ sơ sinh (sau 4 tuần tuổi, nặng hơn 3kg) sau khi bắt đầu điều trị bằng các thuốc kháng virus với phacs đồ có chứa RAL cần đổi sang DTG càng sớm càng tốt.

(2): Các dạng hạt hoặc siro LPV/r chỉ dùng cho những trẻ lớn hơn 2 tuần tuổi.

(3): Chỉ được dùng DTG với trẻ >4 tuần tuổi và cân nặng >3kg.

(4): Thuốc TAF chỉ dùng cho các đối tượng với liều đã được phê duyệt.

(5): Chỉ dùng EFV cho trẻ >3 tuổi.

(6): Khi sử dụng DTG cho các đối tượng là phụ nữ, nữ giới đang trong độ tuổi sinh sản cần tư vấn các thông tin về hiệu quả, nguy cơ dị tật ống thần kinh và chỉ kê đơn khi được người bệnh đồng ý.

(7) Thuốc TAF có thể xem xét để chỉ định cho những người bị loãng xương hoặc suy thận.

2.3.2 Tối ưu hóa phác đồ điều trị HIV

Tối ưu hóa phác đồ điều trị HIV ở những người đang điều trị bằng các thuốc kháng virus ARV là việc thay đổi từ phác đồ ARV người bệnh đang sử dụng để chuyển sang phác đồ điều trị được cho là tối ưu hơn có chứa DTG. 

Tối ưu hóa phác đồ điều trị cho người >10 tuổi
Trường hợpChuyển đồi phác đồ mớiKhuyến cáo
Phác đồ đang điều trị TDF/3TC/EFV (NVP)
Thất bại trên điều trị hoặc không giúp làm giảm tải lượng virus (>1000 bản sao/ml)AZT + 3TC + DTGCó thể cân nhắc đến việc chuyển sang phác đồ TDF + 3TC + DTG (TLD)
Các phác đồ điều trị ARV bậc 1
Tải lượng virus ≤1000 bản sao/ml.Thay bằng phác đồ TLD 
Điều trị đạt kết quả ổn định, không xác định được tải lượng virusNên xét nghiệm kiểm tra tải lượng virus hoặc làm xét nghiệm để đưa ra quyết định chuyển sang phác đồ TLDDù không xét nghiệm được chính xác tải lượng virus vẫn có thể đổi sang phác đồ TLD
Tối ưu hóa phác đồ điều trị cho trẻ <10 tuổi
Phác đồ đang sử dụng   Cân nặng 

 Phác đồ tối ưu

ABC + 3TC + EFV

AZT + 3TC + NVP

AZT + 3TC + LPV/r

AZT + 3TC + EFV

ABC + 3TC + NVP

ABC + 3TC + LPV/r  

>30 kgTLD
< 30kgABC + 3TC + DTG

Khi thuốc DTG dành riêng cho trẻ thì có thể cân nhắc đến việc chuyển sang phác đồ chứa DTG cho những trẻ đủ điều kiện ≥4 tuần tuổi và ≥3kg theo thứ tự ưu tiên:

  • Đang điều trị bằng phác đồ chứa chất ức chế men sao chép ngược (NNRTI).
  • Trẻ đang bắt đầu tiến hành điều trị bệnh lao phổi.
  • Trẻ đang điều trị bằng viên nén LPV/r.

2.4 Lợi ích của việc dùng thuốc điều trị HIV 

2.4.1 Giảm lượng virus HIV trong máu

Uống thuốc HIV ngay sau khi phát hiện sẽ giúp lượng virus trong cơ thể duy trì ở mức thấp nhất.

Giúp số lượng virus giảm xuống thấp nhất, chỉ ở mức dưới 200 bản sao/ml máu, xét nghiệm máu có thể không tìm thấy sự có mặt của virus gây bệnh.

Sau khi dùng thuốc điều trị HIV nếu tải lượng virus bắt đầu giảm đi thì thuốc đang đáp ứng rất tốt và cần duy trì theo đúng chỉ định điều trị.

Điều trị sớm bằng thuốc kháng virus HIV giúp ngăn ngừa virus nhân lên gây suy giảm hệ miễn dịch, giảm khả năng tự bảo vệ khiến cơ thể dễ mắc bệnh.

2.4.2 Ngăn ngừa lây bệnh cho người xung quanh

Khi nồng độ virus quá thấp trong máu, xét nghiệm không phát hiện được thì virus sẽ không có khả năng lây cho người khác qua đường tính dục.

Phụ nữ mang thai nhiễm HIV nếu duy trì uống thuốc kháng virus trong suốt giai đoạn mang thai đến khoảng 4-6 tuần sau sinh thì khả năng lây nhiễm HIV cho trẻ giảm xuống chỉ còn 1% hoặc thấp hơn.

Giảm thiểu đáng kể nguy cơ lây nhiễm HIV cho trẻ trong giai đoạn đang bú sữa mẹ.

2.4.3 Phòng ngừa kháng thuốc

Khi bị HIV mà không dùng thuốc thì virus có thể đột biến dẫn đến kháng nhiều loại thuốc điều trị HIV, từ đó làm hạn chế sự lựa chọn thuốc điều trị sau này.

Việc kháng thuốc giảm hiệu quả điều trị.

Các loại virus HIV kháng thuốc có thể làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm cho những người xung quanh.[3]

2.5 Thời gian phát huy tác dụng của các thuốc điều trị HIV 

Tải lượng virus là khái niệm để chỉ nồng độ HIV trong máu. Mục tiêu điều trị của các thuốc chống HIV là giảm tải lượng virus xuống mức thấp nhất, không thể phát hiện được bằng xét nghiệm. Thời gian để tải lượng virus chạm mức không thể phát hiện được đường mất khoảng 3-6 tháng dùng thuốc liên tục. Việc một thuốc có khả năng duy trì tải lượng virus ở mức không phát hiện được chứng tỏ thuốc đang đạt hiệu quả rất tốt, dù không giúp người bệnh loại trừ được hoàn toàn virus HIV trong cơ thể nhưng giúp ngăn ngừa virus gây suy giảm miễn dịch, giúp cơ thể khỏe mạnh, kéo dài tuổi thọ và phòng ngừa nguy cơ lây nhiễm HIV cho bạn tình khi quan hệ.[4]

2.6 Tác dụng phụ của các thuốc phơi nhiễm HIV

Trong quá trình sử dụng thuốc có thể gặp phải một số tác dụng không mong muốn
Trong quá trình sử dụng thuốc có thể gặp phải một số tác dụng không mong muốn

Trong quá trình sử dụng các thuốc đặc trị HIV mới nhất, người bệnh có thể gặp phải một số tác dụng phụ:

Các tác dụng phụ phổ biến, kéo dài từ vài ngày đến vài tuần như: 

  • Buồn nôn, nôn.
  • Đau đầu, chóng mặt.
  • Mệt mỏi, khó ngủ.
  • Tiêu chảy.
  • Phát ban.
  • Miệng khô.

Các tác dụng phụ hiếm gặp, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe[5] như:

  • Tăng cholesterol làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh lý về tim mạch.
  • Loạn dưỡng mỡ gây tăng hoặc mất mỡ ở một số vị trí trên cơ thể, khiến người bệnh cảm thấy rất mặc cảm về ngoại hình của bản thân.
  • Tổn thương gan, thận, tuyến tụy.
  • Mất xương.
  • Gây tăng lượng đường trong máu, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.
  • Tăng nồng độ axit lactic trong máu.

Khi gặp phải bất kỳ triệu chứng bất thường nào trong quá trình dùng thuốc, người bệnh nên thông báo với bác sĩ điều trị để được tư vấn, khắc phục kịp thời. Bên cạnh đó, người bệnh nên thường xuyên đi thăm khám trong quá trình dùng thuốc để kịp thời phát hiện những ảnh hưởng về sức khỏe do thuốc gây ra để kịp thời điều chỉnh, thay thuốc khác an toàn hơn.

2.7 Thuốc điều trị HIV có tốn kém không? Chi phí điều trị HIV là bao nhiêu?

Thuốc điều trị HIV bao nhiêu tiền? Thuốc điều trị HIV có miễn phí không? Điều trị HIV là cả một quá trình kéo dài cả đời, chi phí ước tính lên đến hàng chục đến hàng trăm triệu đồng. Với một người có thu nhập bình thường, nếu không tham gia bảo hiểm y tế thì việc tự chi trả chi phí điều trị HIV vô cùng khó khăn. Theo ước tính, người nhiễm HIV nếu tham gia bảo hiểm y tế thì quỹ bảo hiểm sẽ phải chi trả khoảng hơn chục triệu đồng/năm bao gồm cả tiền thuốc ARV, chi phí xét nghiệm và các thuốc phòng ngừa nhiễm trùng cơ hội khác. Trong đó, còn chưa kể đến người bị bệnh có hệ miễn dịch suy giảm nên rất dễ bị ốm, mắc bệnh tật khác nên chi phí khám chữa bệnh hàng năm rất tốn kém. 

Chính vì thế, người bệnh nên tham gia bảo hiểm y tế càng sớm càng tốt để hỗ trợ một phần khó khăn trong quá trình điều trị bệnh.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Tác giả Jonathan E. Kaplan (Ngày đăng ngày 3 tháng 8 năm 2022). Antiretrovirals: HIV and AIDS Drugs, WebMD. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022
  2. ^ Tác giả Jonathan E. Kaplan (Ngày đăng ngày 3 tháng 8 năm 2022). Antiretrovirals: HIV and AIDS Drugs, WebMD. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022
  3. ^ Tác giả Division of HIV Prevention, National Center for HIV, Viral Hepatitis, STD, and TB Prevention, Centers for Disease Control and Prevention (Ngày đăng ngày 14 tháng 7 năm 2022). HIV, CDC. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022
  4. ^ Tác giả Stephanie Watson (Ngày đăng ngày 16 tháng 8 năm 2021). What to Start: Choosing an HIV Treatment Regimen, hivinfo.nih.gov. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022
  5. ^ Tác giả Stephanie Watson (Ngày đăng ngày 6 tháng 6 năm 2022). Antiretroviral HIV Drugs: Side Effects and Adherence, CDC. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2022
Ngày đăng

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
  • 0 Thích

    ThUốc HIV có bán ở nhà thuốc không?


    Thích (0) Trả lời 1
    • chỉ những nhà thuốc lớn có đăng kiểm mới được bán các thuốc ARV

      Quản trị viên: Dược sĩ Mai Hiên vào


      Thích (0) Trả lời
(Quy định duyệt bình luận)
Các loại thuốc điều trị HIV tốt nhất hiện nay 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
  • Các loại thuốc điều trị HIV tốt nhất hiện nay
    M
    Điểm đánh giá: 5/5

    Bài viết rất hứu ích

    Trả lời Cảm ơn (0)
logo
Nhà thuốc uy tín số 1 Nhà thuốc
uy tín số 1
Cam kết 100% chính hãng Cam kết 100%
chính hãng
Dược sĩ giỏi tư vấn miễn phí Dược sĩ giỏi tư
vấn miễn phí
Giao hàng toàn quốc Giao hàng
toàn quốc
Gửi
vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633