0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Thụ tinh trong ống nghiệm - biện pháp hỗ trợ sinh sản

Lượt xem: 1433 Ngày đăng Ngày cập nhật
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/thu-tinh-trong-ong-nghiem
TrungTamThuoc

Tỉ lệ thành công của việc thụ tinh trong ống nghiệm thay đổi khoảng 30-40% mỗi chu kì. Bệnh nhân càng lớn tuổi thì tỉ lệ thành công càng thấp và tỉ lệ sảy thai sau khi thụ tinh thành công càng cao hơn.

 

1 Thụ tinh trong ống nghiệm là gì?

Thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là một kĩ thuật hỗ trợ sinh sản phức tạp được thực hiện bằng cách cho trứng thụ tinh với tinh trùng bên ngoài buồng tử cung của người mẹ trong môi trường sinh học nhân tạo. Sau khi hình thành phôi thai sẽ được đưa lại vào buồng tử cung của người mẹ và phát triển như một bào thai bình thường.

Thụ tinh trong ống nghiệm là chọn lựa cuối cùng khi các phương pháp điều trị vô sinh khác thất bại.

Để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm thì cần buồng trứng và tử cung của người vợ vẫn còn hoạt động được và tinh trùng của người chồng vẫn khỏe mạnh bình thường và có khả năng thụ thai.

Tỉ lệ thành công của việc thụ tinh trong ống nghiệm thay đổi khoảng 30-40% mỗi chu kì. Bệnh nhân càng lớn tuổi thì tỉ lệ thành công càng thấp và tỉ lệ sảy thai sau khi thụ tinh thành công càng cao hơn.

Thụ tinh trong ống nghiệm

Thụ tinh trong ống nghiệm

2 Thụ tinh trong ống nghiệm được thực hiện khi nào?

Thụ tinh trong ống nghiệm được lựa chọn để điều trị vô sinh cho các trường hợp sau:

  • Tắc ống dẫn trứng hai bên hoặc cắt hai vòi trứng sau phẫu thuật phụ khoa hoặc do thai ngoài tử cung.
  • Vô sinh do lạc nội mạc tử cung, giảm chức năng buồng trứng
  • Vô sinh do bất thường về phóng noãn.
  • Vô sinh do bất thường tinh trùng nhẹ hoặc tinh dịch đồ bất thường.
  • Vô sinh không rõ nguyên nhân hoặc phụ nữ trên 40 tuổi khả năng sinh sản suy giảm.
  • Thất bại nhiều chu kỳ với phương pháp bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI).

3 Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm

Kỹ thuật thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Kỹ thuật thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm

Nguyên tắc của IVF là kích thích buồng trứng để nhiều nang noãn phát triển trong một chu kỳ. Sau đó chọc hút nang noãn để lấy noãn ra bên ngoài cơ thể. Cho tinh trùng và noãn tiếp xúc với nhau bên ngoài cơ thể (trong phòng thí nghiệm). Khi phôi được hình thành sẽ được chuyển trở lại buồng tử cung người phụ nữ để phát triển thành thai bình thường.

Một chu kì IVF thật sự bắt đầu từ khi có kinh nguyệt. Các bước tiến hành cụ thể như sau: kích thích buồng trứng, chọc hút trứng, thụ tinh, nuôi cấy phôi ở môi trường ngoài tử cung, đưa phôi vào buồng tử cung, hỗ trợ phôi làm tổ trong tử cung và phát triển như thai nhi bình thường.

Thụ tinh trong ống nghiệm có thành công hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, ví dụ như:

  • Dùng các Thuốc nội tiết để kích thích nhiều nang noãn phát triền cùng lúc, thu được nhiều trứng hơn.
  • Sử dụng thuốc ngăn rụng trứng sớm.
  • Buồng trứng đáp ứng quá mạnh hoặc quá kém so với bình thường.
  • Sử dụng thuốc tránh thai để điều chỉnh chu kì kinh nguyệt.
  • Khó khăn có thể gặp trong chuyển phôi.

 

Các bước tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm

Các bước tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm

3.1 Kích thích buồng trứng

Tiêm thuốc GnRH từ ngày 21 của chu kì với phát đồ dài hạn hoặc khi đang hành kinh đối với phác đồ ngắn hạn để kích thích buồng trứng phát triển nhiều noãn hơn.

Các loại thuốc được sử dụng nhằm kích thích buồng trứng phổ biến nhất là: Menogon, Menopur, Foligraf, IVF-M, Gonal-f, Puregon... Đôi khi người ta còn dùng thêm nhiều thuốc nhóm GnRH đối vận để ngăn rụng trứng sớm hoặc thuốc GnRH đồng vận để đẩy giảm bớt sự quá kích buồng trứng.

3.2 Theo dõi sự phát triển của nang noãn

Dựa vào siêu âm âm đạo và các xét nghiệm nội tiết tố, người ta sẽ đánh giá được sự phát triển của nang noãn. Việc này phải được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong mỗi chu kì IVF. Dựa vào kết quả này, bác sĩ điều trị sẽ chỉnh lại liều lượng thuốc cần dùng cho phù hợp với từng đối tượng bệnh cụ thể.

Thông thường, khi kích thước nang noãn đạt từ 18mm trở lên và E2 huyết thanh đạt trên >350pg/ml/nang thì tức là nang đã trưởng thành. Thông số này có thể thay đổi trong một vài phác đồ điều trị khác.

3.3 Trưởng thành noãn hoàn toàn và tiêm hCG

Việc xác định thời gian tiêm hCG rất quan trọng trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm bởi nó sẽ quyết định thời gian chọc hút trứng.

Thời điểm tiêm hCG thường là khi người phụ nữ có ít nhất 2 nang noãn đạt kích thước từ 17mm trở lên.

3.4 Chọc hút trứng qua đường âm đạo

Thông qua siêu âm, người ta sẽ chọc hút trứng trừ buồng trứng bằng kim sau khi tiêm hCG khoảng 34-36 giờ. Đầu do siêu âm sẽ giúp các bác sĩ quan sát được các nang noãn trong buồng trứng, kim sẽ hút dịch, tế bào nang và trứng rồi được đưa vào ống nghiệm. Sau đó, trứng sẽ được tìm thấy bằng cách soi dưới kính hiển vi.

Trung bình mỗi người sẽ chọc hút được khoảng 8-15 trứng.

3.5 Thụ tinh cho trứng và nuôi phôi

Trong môi trường nuôi cấy phù hợp, trứng và tinh trùng sẽ được đặt chung với nhau để thụ tinh. Tinh trùng của người nam giới được lấy vào buổi sáng ngày chọc hút trứng, sau đó đưa vào môi trường chứa trứng để thụ tinh.

Phôi tiếp tục được nuôi dưỡng trong đĩa hoặc ống nghiệm có môi trường tương tự ống dẫn trứng và tử cung người phụ nữ. Việc nuôi cấy trong ống nghiệm giúp nhận biết sớm được phôi nào phát triển tốt hoặc kém để lựa chọn những phôi tốt nhất và chuyển vào tử cung người mẹ.

3.6 Chuyển phôi

Sau thời gian chọc hút trứng và nuôi dưỡng phôi khoảng 3-5 ngày, những phôi chất lượng tốt sẽ được chọn để chuyển vào lòng tử cung người mẹ bằng một ống mềm qua cổ tử cung. Quá trình này cần không cần gây mê, bệnh nhân có thể ra viện ngay sau đó vài giờ.

Lưu ý:

  • Tỉ lệ có thai và đa thai bị ảnh hưởng bởi số lượng phôi được chuyển vào cơ thể mẹ.
  • Tuổi tác là vấn đề ảnh hưởng nhiều nhất tới kết quả thụ tinh ống nghiệm.
  • Những phôi đủ chất lượng còn lại được đông lạnh để sử dụng vào chu kì tiếp nếu không thành công.

3.7 Bổ sung nội tiết tố

Nội tiết tố có đầy đủ hay không cũng là một yếu tố quyết định sự làm tổ thành công của phôi. Bởi vậy, trong quá trình thụ tinh trong ống nghiệm người mẹ thường phải bổ sung thêm progesterone.

Progesterone có thể được bổ sung bằng đường uống, tiêm hoặc đặt âm đạo. Đôi khi là sự phối hợp giữa nhiều cách với nhau.

Bắt đầu bổ sung progesterone từ ngày chọc hút trứng nhằm giúp nội mạc tử cung đáp ứng đủ yêu cầu để đón nhận phôi làm tổ khi chuyển phôi. Sau khi chuyển phổi, việc dùng thuốc vẫn duy trì thêm vài tuần sau đó nếu được chẩn đoán có thai.

3.8 Thử thai và hỗ trợ thai giai đoạn sớm

Việc xét nghiệm thử thai được thực hiện sau khi chuyển phôi vào tử cung từ 10-14 ngày. Nếu kết quả dương tính thì xét nghiệm lại sau đó 2 ngày, nếu âm tình thì bác sĩ sẽ cho bệnh nhân dừng sử dụng progesterol.

Sau khi xác định có thai, bệnh nhân vẫn phải theo dõi thai kì chặt chẽ để phòng và kịp thời xử trí nếu sẩy thai, đa thai hoặc thai ngoài tử cung.

4 Những nguy cơ khi thụ tinh trong ống nghiệm

Tuy IVF thường được xem là một kỹ thuật tương đối an toàn, nhưng những người phụ nữ khi tham gia vào IVF vẫn có thể gặp một số nguy cơ như thất bại, quá kích buồng trứng, đa thai hay thai ngoài tử cung.

Thụ tinh trong ống nghiệm có những nguy cơ nào?

Thụ tinh trong ống nghiệm có những nguy cơ nào?

4.1 Thất bại

Tuy không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe, thất bại trong điều trị vô sinh có thể là một gánh nặng về mặt tâm lý cho người phụ nữ.

Nguyên nhân thất bại:

  • Thất bại có thể xảy ra ở khâu kích thích buồng trứng khiến nang noãn không phát triển hoặc phát triển ít. Nếu chỉ có 2 - 3 nang noãn phát triển thì tỷ lệ thành công của chu kỳ IVF là rất thấp. Tình trạng này hay gặp ởn ở những người nữ lớn tuổi, bị lạc nội mạc tử cung bất thường nội tiết. 
  • Thất bại còn có thể do thụ tinh bất thường hoặc không xảy ra quá trình thụ tinh hoặc thụ tinh nhưng phôi ngưng phát triển sau đó.
  • Một số trường hợp khác, sau khi chuyển phôi, phôi không làm tổ được trong tử cung người mẹ.

4.2 Quá kích buồng trứng

Theo thống kê, quá kích buồng trứng là một trong những nguy cơ hay gặp nhất trong kĩ thuật IVF. Trong đó, nhóm đổi tượng có tỉ lệ gặp tình trạng này cao nhất là những người bị hội chứng buồng trứng đa nang.

4.3 Đa thai

Đa thai là sự phát triển của nhiều hơn 1 thai trong tử cung tại cùng một thời điểm.

Thông thường, để nâng cao tỉ lệ thành công, người ta sẽ chuyển nhiều hơn 1 phôi vào tử cung trong mỗi chu kì IVF, tuy nhiên điều này cũng làm tăng nguy cơ bị đa thai hơn so với bình thường từ 19-42% tùy theo độ tuổi của người phụ nữ.

4.4 Một số nguy cơ khác

Con số thống kê cũng chỉ ra rằng tỉ lệ mang thai ngoài tử cung ở người thực hiện kĩ thuật IVF cũng cao hơn so với người mang thai tự nhiên từ 2-3 lần. Bên cạnh đó còn có một số nguy cơ khác như dị dạng thai nhi, sảy thai,... nhưng khả năng gặp trương hợp này không cao hơn so với mang thai tự nhiên.

 

Copy ghi nguồn: trungtamthuoc.com

Link bài viết: Thụ tinh trong ống nghiệm - biện pháp hỗ trợ sinh sản


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

0981199836