0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Thai ở sẹo mổ lấy thai: triệu chứng và cách xử trí

, 4 phút đọc

, Cập nhật lần cuối:
Lượt xem:
1585

Hiện nay, biện pháp xử trí cho những ca có thai bám tại sẹo mổ tử cung cũ là điều trị bảo tồn nội khóa và can thiệp ngoại khoa để kết thúc thai kì sớm, tránh vỡ tử cung và bảo tồn được khả năng sinh sản (nếu người bệnh đủ điều kiện và vẫn còn nhu cầu sinh con).

 

1 Thế nào là thai ở sẹo mổ lấy thai?

Thai ở sẹo mổ lấy thai là một dạng bệnh lý hiếm gặp nhất trong các trường hợp mang thai ngoài tử cung. Tình trạng này là do thai làm tổ trong vết sẹo mổ cũ trên cơ tử cung và gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm cho thai phụ nư nhau cài răng lược, vỡ tử cung, xuất huyết nặng, thậm chí là tử vong.

Hiện nay, tỉ lệ sinh mổ ngày càng gia tăng do đó tỉ lệ thai bám vào vết mổ cũ cũng tăng lên.

Thai ở sẹo mổ lấy thai được chia làm 2 dạng là:

  • Túi thai phát triển hướng vào trong eo tử cung hay buồng tử cung, vẫn có khả năng phát triển nhưng nguy cơ xuất huyết ồ ạt nơi nhau bám cao.
  • Túi thai cắm sâu vào khẻ hở sẹo mổ, phát triển dần có thể gây vỡ tử cung trong 3 tháng đầu và xuất huyết ồ ạt.

Thai ở sẹo mổ lấy thai

Thai ở sẹo mổ lấy thai

2 Nguyên nhân khiến thai bám vào vết mổ tử cung

Nguyên nhân khiến thai bám vào vị trí này hiện vẫn chưa được làm rõ. Tuy nhiên, các yêu tố làm tăng nguy cơ thai bám vào tử cung đó là:

  • Phụ nữ đã từng sinh mổ.
  • Có tiền sử phẫu thuật điều trị các bệnh lý ở tử cung như bóc nhân u xơ tử cung, may tái tạo lại tử cung,...
  • Có tiền sử mang thai ngoài tử cung.
  • Người thụ tinh trong ống nghiệm.

3 Triệu chứng và chẩn đoán thai bám vào sẹo mổ lấy thai

Lâm sàng:

Các biểu hiện lâm sàng ban đầu của thai bám vào sẹo mổ rất khó chẩn đoán, tam chứng cổ điển thường gặp nhất là:

  • Trễ kinh.
  • Ra huyết âm đạo bất thường.
  • Đau bụng lâm râm

Tuy nhiên, không phải ai cũng có các triệu chứng này, có tới 50% số ca bệnh không có triệu chứng và chỉ được phát hiện khi đi siêu âm.

Cận lâm sàng:

Siêu âm ngả âm đạo kết hợp với Doppler là biện pháp chẩn đoán hay dùng nhất, nếu bệnh nhân có thai bám ở sẹo mổ lấy thai thì hình ảnh quan sát được thường là:

  • Túi thai nằm giữa bàng quang và phần trước đoạn eo tử cung, lớp cơ tử cung giữa bàng quang và túi thai rất mỏng chỉ 1-3mm.
  • Có mạch máu phình quanh túi thai.
  • Buồng tử cung không có túi thai bám vào nội mạc tử cung.
  • Kênh cổ tử cung trống không.

Siêu âm 3D và MRI cũng được áp dụng trong các trường hợp khó chẩn đoán.

Siêu âm chẩn đoán hình ảnh

Siêu âm chẩn đoán hình ảnh

Cần lưu ý phân biệt với các trường hợp khác như thai ở cổ tử cung, sẩy thai và khối thai tụt xuống ngang sẹo mổ,...

4 Xử trí thai ở sẹo mổ lấy thai bằng cách nào?

Hiện nay, biện pháp xử trí cho những ca có thai bám tại sẹo mổ tử cung cũ là điều trị bảo tồn nội khóa và can thiệp ngoại khoa để kết thúc thai kì sớm, tránh vỡ tử cung và bảo tồn được khả năng sinh sản (nếu người bệnh đủ điều kiện và vẫn còn nhu cầu sinh con).

Việc điều trị cũng phụ thuộc vào tuổi thai, kích thước của thai, tình trạng huyết động học của bệnh nhân. 

4.1 Điều trị nội khoa

Điều trị bằng Methotrexate

Methotrexate được chỉ định với các trường hợp tuổi thai dưới 14 tuần, huyết động ổn định và thai phụ không chống chỉ định với thuốc này.

  • Trường hợp thai lưu từ 8 tuần trở xuống có βhCG tăng thì tiêm bắp methotrexate 50mg.
  • Nếu chưa có tim thai thì hút trọn phôi thai, nước ối và tiêm methotrexate 25mg quanh túi thai và 25mg tiêm bắp.
  • Nếu thai có tim thai và dưới 9 tuần tuổi thì hủy thai bằng cách hút trọn phôi thai hoặc trên 9 tuần tuổi thì hút mô buồng tim thai hoặc tiêm 25mg methotrexate vào tim thai + 25mg methotrexate vào bánh nhau. Sau khi  tiêm khoảng 1 tiếng đến 1,5 tiếng nếu siêu âm lại đã mất tim thai thì tiêm bắp tiếp 25mg methotrexate. (cần xem co xuất huyết tại chỗ không).

Lưu ý không dùng methotrexate trong các trường hợp sau:

  • Huyết động học không ổn định.
  • Có dấu hiệu vỡ tử cung.
  • Có cả thai trong tử cung.
  • Phụ nữ đang cho con bú.
  • Dị ứng với methotrexate.
  • Có mắc bệnh nội khoa như suy thận, loét dạ dày, suy giảm miễn dịch,...

Các xét nghiệm cần làm trước khi điều trị bằng methotrexate là huyết đồ, nhóm máu, đường huyết, chức năng gan thận, ECG, X-quang tim phổi thẳng,...

Sau điều trị bằng methotrexate đa số bệnh nhân hồi phục hoàn toàn không cần can thiệp thêm và đa số không có tác dụng phụ.

4.2 Điều trị ngoại khoa

Nong nạo:

Được dùng trong một số ít trường hợp βhCG < 2.000mUI/ml hoặc sau khi điều trị MTX mà khối thai không giảm kích thước.

Nhược điểm của phương pháp này là có nguy cơ xuất huyết cao và có thể gây thủng tử cung cần cấp cứu cắt tử cung.

Việc nong nạo cần kết hợp với các tác động cơ học khác như thắt động mạch tử cung trước để giảm nguy cơ xuất huyết.

Khi có chảy máu trung bình trở lên cần đặt bóng chèn bơm 20-30cc nước muối sinh lý và ống thông tiểu để cầm máu. Rút bóng chèn và thông tiểu sau 12-24 giờ.

Tắc mạch máu nuôi:

Thường dùng để chuẩn bị cho phẫu thuật bằng cách tắt động mạch tử cung ngả âm đạo, thắt động mạch chậu trong, tắc mạch cổ tử cung, tử cung,... để giảm nguy cơ xuất huyết quá nhiều trong quá trình phẫu thuật.

Phẫu thuật:

Biện pháp này nhằm mục đích lấy khối thai và bảo tồn tử cung, áp dụng khi tuổi thai trên 14 tuần hoặc người mang thai đã trên 40 tuổi và không có ý định sinh con hoặc thai phụ huyết động không ổn định, xuất huyết nhiều.

Việc phẫu thuật sẽ lấy hết mô thai và sửa chữa được khuyết điểm của vết sẹo mổ cũ.

Nhược điểm của biện pháp này là đường mổ dài, có thể gây tổn thương bàng quang, niêu đạo do khối nhau xâm lấn, thời gian hậu phẫu dài và tăng nguy cơ nhau tiền đạo, nhau cài răng lược.

Phẫu thuật cắt tử cung được áp dụng khi sản phụ xuất huyết quá nhiều không cầm được.

Phẫu thuật

Đường mổ dài khi phẫu thuật

Phối hợp nhiều kỹ thuật:

Tùy theo tình trạng của thai phụ, bác sĩ có thể phối hợp nhiều biện pháp điều trị để cho kết quả tốt:

  • Dùng methotrexate + nong nạo.
  • Dùng methotrexate tại chỗ/toàn thân + tắc động mạch tử cung.
  • Tắc động mạch tử cung + phẫu thuậ.​

Lưu ý: Cần ngừa thai sau thai ở sẹo mổ lấy thai ít nhất 12 tới 24 tháng.

Nếu dùng thủ thuật điều trị thì sau đó cần dùng thuốc kháng sinh, co tử cung và cầm máu:

  • Kháng sinh: Ceftriaxon 1g 1 lọ x2 tiêm tĩnh mạch 2 ngày, sau đó dùng cefixim phối hợp với Metronidazole 250mg 2 viên/lần x 2 lần/ngày (trong 7 ngày).
  • Thuốc hỗ trợ: Oxytocin 5 đơn vị (2 lần/ngày đến khi xuất viện).
  • Thuốc cầm máu: Acid tranexamic 500 mg 1 viên x 2 lần/ngày (5 ngày).

4.3 Tiêu chuẩn điều trị ngoại trú

Bệnh nhân có đầy đủ tiêu chuẩn sau sẽ được điều trị ngoại trú nếu muốn:

  • Tình trạng lâm sàng ổn đinh, không đau bụng, không còn ra huyết âm đạo.
  • Khối thai dưới 5cm.
  • βhCG giảm trên > 30% so với βhCG trước thủ thuật.
  • Giảm tăng sinh mạch máu.
  • Bệnh nhân tuân thủ theo dõi và có thể đến bệnh viên nhanh khi xuất hiện tình trạng chảy máu.

Lưu ý: 

  • Bệnh nhân không được vận động mạnh, không quan hệ tình dục, hạn chế đi lại cho đến khi khối thai tiêu biến hoàn toàn.
  • Nhập viện nhanh chóng khi có chảy máu trung bình, βhCG tăng, thể tích khối thai tăng hay tăng tưới máu.
  • Khi thăm khám cần nhẹ nhàng tránh nguy cơ xuất huyết ồ ạt nếu quá mạnh tay.

 

Copy ghi nguồn: trungtamthuoc.com

Link bài viết: Thai ở sẹo mổ lấy thai: triệu chứng và cách điều trị

Ngày đăng
Lượt xem: 1585

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá
Hủy

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633