0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

SUY TUYẾN YÊN: NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Lượt xem: 1497Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/suy-tuyen-yen 16/07/2020 8:14:53 SA
TrungTamThuoc

Tốc độ khởi phát và mức độ nghiêm trọng của suy tuyến yên có ảnh hưởng đáng kể đến các đặc điểm lâm sàng của người bệnh. Đặc biệt, nếu suy tuyến yên do có khối u, thì người bệnh có thể đau đầu, suy giảm thị lực và thay đổi tính cách và hội chứng vùng dưới đồi.

1 Bệnh suy tuyến yên là gì?

Suy tuyến yên được định nghĩa là mất toàn bộ hoặc một phần chức năng tuyến yên trước và sau tuyến yên do rối loạn tuyến yên hoặc vùng dưới đồi. Biểu hiện lâm sàng của suy tuyến yên là khác nhau, thường ngấm ngầm khởi phát, liên quan đến mức độ nghiêm trọng của thiếu hụt hormone. Hay có thể phát triển rất chậm, trong vài tháng hoặc thậm chí vài năm. Tình trạng này có thể liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong và biến chứng, do đó cần phát hiện và điều trị kịp thời.

Suy tuyến yên là gì?

Suy tuyến yên là gì?

2 Nguyên nhân gây suy tuyến yên

Một loạt các bệnh có thể gây ra suy tuyến yên và do đó, rối loạn này có thể được chia thành hai loại tùy thuộc vào nguyên nhân.

Giảm bài tiết hormone ở tuyến yên sau có thể phần lớn là do sự thất bại trong quá trình tổng hợp hormone hoặc bài tiết từ vùng dưới đồi. Còn giảm bài tiết hormone ở tuyến yên trước có thể là do sự thiếu hụt trong hoạt động của một hoặc nhiều tế bào thần kinh được tiết ra từ vùng dưới đồi.[1]

Suy tuyến yên nguyên phát là do rối loạn của tuyến yên và có thể là mất, tổn thương hoặc rối loạn chức năng của các tế bào tiết hormon tuyến yên.

  • Các nguyên nhân phổ biến nhất của suy tuyến yên nguyên phát là u tuyến yên và các biến chứng do phẫu thuật hoặc xạ trị để điều trị u tuyến yên. Trong trường hợp này, đường kính của u tuyến yên là ≥ 1 cm, sự khởi phát của suy tuyến yên thường chậm trừ khi bệnh nhân bị đột quỵ tuyến yên.
  • Sự thiếu hụt hormone do chèn ép hoặc làm tổn thương các mô bình thường xung quanh khối u. Hoặc do chèn ép cơ học của tĩnh mạch cửa bởi cuống tuyến yên, tăng áp lực nội mạc và hoại tử khu trú do gián đoạn tĩnh mạch cửa kéo dài.
  • Viêm tuyến yên có nguyên nhân không rõ và có các triệu chứng khó phân biệt với các khối u liên quan cũng có thể là nguyên nhân gây suy tuyến yên.
  • Phơi nhiễm phóng xạ để điều trị các tình trạng ác tính ở vùng đầu và cổ cũng có thể gây ra suy tuyến yên. Một loạt các thiếu hụt nội tiết tố có thể xảy ra khi điều trị khối u tuyến yên bằng xạ trị. Sự khởi phát của các tình trạng này phụ thuộc vào tổng lượng phóng xạ, liệu phân đoạn và thời gian sau khi xạ trị. Tần suất biểu hiện của sự thiếu hụt hormone lớn hơn 50% sau 10 năm kể từ khi tiếp xúc với bức xạ.
  • Trong một số ít trường hợp, suy tuyến yên là do nhiễm virus cytomegalo xảy ra ở bệnh nhân AIDS.
  •  Hội chứng Sheehan - xuất huyết sau sinh của tuyến yên,  viêm màng não lao và sốt xuất huyết với hội chứng thận gây ra suy tuyến yên.
  • Trong những trường hợp hiếm hơn, các hội chứng thiếu hormone tuyến yên đơn có thể xảy ra do nguyên nhân di truyền, thường gặp ở trẻ em.

Mặt khác, suy tuyến yên thứ phát là kết quả của các bệnh vùng dưới đồi hoặc cuống tuyến yên. Từ đó, làm gián đoạn các kết nối thần kinh hoặc mạch máu với tuyến yên, dẫn đến giảm sự tiết của hormone tuyến yên.

  • ​Tổn thương cuống tuyến yên thường xảy ra sau chấn thương đầu, cổ kèm theo gãy xương bao quanh xương bán nguyệt gây suy tuyến yên. Ngoài ra, các khối u gần hố tuyến yên có thể chèn vào và làm hỏng cuống tuyến yên.
  • Rối loạn hệ thống thần kinh trung ương như u sọ, khối u tế bào mầm, có thể gây suy tuyến yên do cản trở sự tiết hormone từ vùng dưới đồi.
  • Các vấn đề sức khỏe như rối loạn chuyển hóa, bệnh hệ thống và căng thẳng đều có thể liên quan đến sự thiếu hụt hormone tuyến yên chọn lọc.
  • Trong một số ít trường hợp, các tình trạng di truyền như hội chứng Kallmann hoặc bệnh đái tháo nhạt có thể làm giảm chức năng tuyến yên.

Có nhiều nguyên nhân gây suy tuyến yên.

Có nhiều nguyên nhân gây suy tuyến yên.

3 Chẩn đoán suy tuyến yên như thế nào?

3.1 Các triệu chứng lâm sàng của suy tuyến yên

Tốc độ khởi phát và mức độ nghiêm trọng của suy tuyến yên có ảnh hưởng đáng kể đến các đặc điểm lâm sàng của người bệnh. Đặc biệt, nếu suy tuyến yên do có khối u, thì người bệnh có thể đau đầu, suy giảm thị lực và thay đổi tính cách và hội chứng vùng dưới đồi.[1]

Những người suy tuyến yên thiếu ACTH cấp thường mệt mỏi, suy nhược, chóng mặt, buồn nôn, nôn, hạ huyết áp, hạ đường huyết. Còn nếu thếu ACTH mạn tính sẽ thấy  mệt mỏi, xanh xao, chán ăn, sụt cân, hạ đường huyết.

Trường hợp người bệnh thiếu TSH sẽ thấy mệt mỏi, dị ứng lạnh, táo bón, tăng cân, rụng tóc, khô da, nhịp tim chậm, khàn giọng, chậm tâm thần.

Khi thiếu GnRH, người đàn ông bị mất ham muốn, giảm chức năng tình dục, giảm khối lượng cơ và xương, tạo hồng cầu và dài tóc. Còn với phụ nữ sẽ thấy vô kinh, thiểu niệu, vô sinh, mất ham muốn, khó thở, loãng xương, lâu dần xơ vữa động mạch sớm.

Khi suy tuyến yên gây thiếu hormone GH sẽ giảm khối lượng cơ và sức mạnh, tăng mỡ nội tạng, mệt mỏi, xơ vữa động mạch sớm, giảm chất lượng cuộc sống.

Người bệnh bị thiếu hụt prolactin sẽ không có sữa để cho con bú, hoặc đa niệu, tiểu đêm nhiều khi thiếu hormon chống lợi tiểu.

3.2 Các xét nghiệm hormon và nghiệm pháp chẩn đoán suy tuyến yên

Chẩn đoán suy tuyến yên bằng cách đo nồng độ hormone cơ bản trong tình trạng nhịn ăn buổi sáng hoặc thực hiện các xét nghiệm kích thích nếu cần thiết. Sáu hormone tuyến yên trước (GH, prolactin, LH, FSH, TSH và ACTH) hay hormone đích có thể đo bằng kỹ thuật xét nghiệm miễn dịch nhạy cảm và đáng tin cậy. Các hormon tuyến yên khác ngoại trừ thiếu GH và ACTH có thể được chẩn đoán bằng phép đo hormone cơ bản.

Sau khi khi làm các xét nghiệm lâm sàng chẩn đoán trên, cho bệnh nhân chụp MRI vùng hố yên để tìm khối u hay dị mạch gây suy tuyến yên.

4 Các phương pháp điều trị bệnh suy tuyến yên

Điều trị suy tuyến yên bao gồm điều trị thay thế hormone thích hợp và điều trị nguyên nhân gây suy tuyến yên, có thể phải tiến hành phẫu thuật khi cần.

Điều trị suy tuyến yên như thế nào?

Điều trị suy tuyến yên như thế nào?

Điều trị thay thế hormon trong suy tuyến yên

Thiếu ACTH có thể được điều trị bằng hydrocortison hoặc prednison, đây là một loại thuốc corticosteroid tổng hợp.

  • Ở những bệnh nhân bị suy tuyến yên có nồng độ aldosterone xấp xỉ bình thường, không cần phải thay thế các mineralocorticoid.[1]
  • Nếu nồng độ cortisol trong máu vượt quá 10 µg/dL và không có triệu chứng thiếu hụt cụ thể, thì có khả năng bị thiếu một phần. Vậy nên trường hợp này cần theo dõi không dùng thuốc hoặc theo dõi sự tiến triển sau khi dùng 10 mg hydrocortison hoặc 2,5 mg prednison. Nếu có ít sự khác biệt trong đáp ứng lâm sàng trước và sau khi dùng, việc điều trị có thể được ngừng lại. Nếu cải thiện lâm sàng tốt thì tiếp tục điều trị cùng liều đó hay tăng nhẹ lên 12,5 đến 15,0 mg hydrocortison hoặc lên 3,75 mg prednison.[1]
  • Liều dùng thông thường mỗi ngày của hydrocortison là từ 10 đến 25mg làm chia 2 lần hay prednisolon với liều từ 5 đến 7,5 mg uống sau ăn. Nếu bệnh nhân có căng thẳng nhẹ thì dùng hydrocortison tiêm tĩnh mạch tăng liều lên 2 đến 3 lần, còn liều từ 100 đến 150mg trong ngày, khi căng thẳng nặng.

Trường hợp bệnh nhân thiếu TSH được điều trị bằng  L-thyroxine (levothyroxin). Do các hoạt động sinh học của các loại thuốc hiện có khá giống với T4, nên không cần thay đổi liều khi chuyển từ thuốc này sang thuốc khác.  Nên bắt đầu điều trị bằng thuốc với 25 đến 50 μg/ngày và sau đó tăng dần liều lên 75 đến 125 μg/ngày, uống khi bụng đói.[1] Ở những bệnh nhân có suy thượng thận rõ, nên sử dụng glucocorticoids trước hoặc kết hợp với T4 để chống khủng hoảng tuyến thượng thận. Nên tăng liều T4 từ 30% đến 50%, đặc biệt là khi điều trị cho phụ nữ mang thai và bệnh nhân dùng estrogen khi dùng thuốc cảm ứng men gan: phenytoin, barbiturat, rifampin và carbamazepine... Mặt khác, nên giảm liều T4 khoảng 20% ​​khi dùng cho bệnh nhân đang dùng testosterone hoặc cho những người già.[1]

Điều trị thiếu hụt GnRH ở người bệnh suy tuyến yên: Đối với những bệnh nhân bị giảm năng tuyến sinh dục, quan trọng là phải xem xét cả điều trị thay thế steroid tuyến sinh dục và khả năng sinh sản. 

  • Với nam giới, thay thế androgen được sử dụng bằng cách sử dụng testosterone. Sử dụng tiêm bắp testosterone enanthate hoặc cypionate với liều 200 mg/lần, mỗi 3 đến 4 tuần. Và sử dụng thuốc uống testosterone unecanoate với liều từ 80 đến 120 mg, mỗi ngày uống 2 lần. Hoặc sử dụng testosterone unecanoate tiêm bắp mỗi 3 tháng một lần với liều 1000mg mỗi lần. Trong quá trình điều trị, theo dõi đáp ứng lâm sàng, xét nghiệm hematocrits, PSA.
  • Với phụ nữ bị suy tuyến yên, dùng ethinyl estradiol liều 2 đến 4 mg mỗi ngày, đó là estrogen liên hợp liều 0,625 đến 1,25 mg mỗi ngày kết hợp với progesterone. Hoặc sử dụng thuốc tránh thai đường uống có thể phục hồi hoàn toàn kinh nguyệt, dùng trước khi mãn kinh. Đối với người không bị cắt tử cung, nên sử dụng medroxyprogesterone liều 10 mg/ngày, dùng 12 đến 14 ngày mỗi tháng kết hợp với điều trị estrogen. Ngoài ra có thể sử dụng miếng dán estrogen qua da để điều trị cho những bệnh nhân này. Điều trị phải được tiếp tục ít nhất cho đến khi mãn kinh đến khi ngừng điều trị để ngừa loãng xương và duy trì tác dụng lipoprotein chống xơ vữa động mạch. Sau khi mãn kinh, nên giảm dần liều estrogen cho đến khi ngừng điều trị.

Trên đây là các thông tin cơ bản của bệnh suy tuyến yên, hy vọng sẽ hữu ích với bạn đọc.

Tài liệu tham khảo:

[1]. Suy tuyến yên: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4722397/


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......