0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

[CẦN BIẾT] Suy giáp và những triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

Lượt xem: 1333Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/suy-giap-trieu-chung-lam-sang-can-lam-sang 14/04/2020 12:32:40 SA
TrungTamThuoc

Suy giáp là bệnh lý rối loạn nội tiết thường gặp ở phụ nữ, có thể gặp ở nhóm đối tượng phụ nữ sau sinh. Vậy suy giáp có nguyên nhân và triệu chứng như thế nào?

Suy giáp là gì?

Suy giáp là một rối loạn nội tiết phổ biến do thiếu hụt sản xuất hormone tuyến giáp. Bệnh nhân suy giáp nguyên phát là do các yếu tố ảnh hưởng chính tuyến giáp gây giảm sự tiết tuyến giáp của hormon tuyến giáp. Và sự giảm nồng độ trong huyết thanh của hormon tuyến giáp gây ra sự tăng tiết TSH khiến nồng độ TSH trong huyết thanh tăng cao. Giảm tiết hormon  tuyến giáp cũng có thể do sự kích thích không đủ của tuyến giáp bởi TSH, do các yếu tố can thiệp trực tiếp vào giải phóng TSH tuyến yên hoặc gián tiếp do giảm phóng thích TRH tuyến giáp.

Nguyên nhân gây suy giáp

Nguyên nhân chính gây suy giáp là do bổ sung iod dư thừa và bệnh tuyến giáp tự miễn - Hashimoto.[1]

Suy giáp là gì?

Suy giáp là gì?

Trong đó, các dạng suy giáp nguyên phát gồm có: Viêm tuyến giáp tự miễn mãn tính, viêm tuyến giáp sau sinh, viêm tuyến giáp bán cấp hay u hạt, suy giáp do thuốc, suy giáp sau điều trị.[1]

Suy tuyến giáp tự miễn là là nguyên nhân thường gặp nhất của suy tuyến giáp mắc phải. Lúc này, cơ thể coi các kháng nguyên tuyến giáp là ngoại lai. Từ đó xảy ra phản ứng miễn dịch mãn tính, dẫn đến sự xâm nhập tế bào lympho của tuyến và phá hủy dần dần các mô tuyến giáp chức năng.

Phần lớn các bệnh nhân bị ảnh hưởng sẽ có các kháng thể đến mô tuyến giáp. Kháng thể kháng peroxidase tuyến giáp là dấu hiệu đặc trưng của bệnh này. Nồng độ kháng thể này có thể thay đổi theo thời gian, có thể không xuất hiện sớm trong quá trình bệnh và cũng biến mất theo thời gian.

Có đến 10% phụ nữ sau sinh có thể bị viêm tuyến giáp sau sinh trong 2 đến 12 tháng sau khi sinh. Bệnh nhân bị viêm tuyến giáp sau sinh có nguy cơ bị suy giáp vĩnh viễn hoặc tái phát viêm tuyến giáp sau sinh với thai kỳ tới.

Viêm tuyến giáp hạt bán cấp là một bệnh tương đối hiếm gặp, xảy ra thường xuyên nhất ở phụ nữ trung niên. Bệnh thường tự giới hạn và không dẫn đến rối loạn chức năng tuyến giáp lâu dài.

Suy giáp do thuốc và điều trị: Có một số loại thuốc có thể gây suy giáp như amiodarone, α - interferon, thalidomide, ethionamid… Sử dụng iod phóng xạ để điều trị bệnh basedow thường dẫn đến suy giáp vĩnh viễn trong vòng 3 đến 6 tháng sau khi điều trị.

Với người bệnh u đầu, u cổ hay bệnh ung thư vú, bệnh Hodgkin điều trị bằng chiếu có thể dẫn đến suy giáp.

Người bệnh cắt tuyến giáp dẫn đến tình trạng suy giáp. Hay những người bệnh phải phẫu thuật cắt bỏ thùy tuyến giáp, cắt bỏ tử cung, cũng có khả năng bị suy tuyến giáp.

Khoảng 10% bệnh nhân bị suy giáp bẩm sinh có lỗi trong quá trình tổng hợp hormon tuyến giáp, trong đó phổ biến nhất là đột biến trong gen TPO.

Trên toàn thế giới, thiếu iốt là nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh suy giáp. Iod dư thừa, như dùng thuốc nhuộm phóng xạ, amiodarone, thuốc bổ sức khỏe và rong biển, có thể ức chế tạm thời tổ chức iodide và tổng hợp hormon tuyến giáp. Khi người bệnh tiếp xúc với iod dư thừa có thể tạo ra chứng suy giáp sâu và kéo dài hơn ở những người có tuyến giáp bất thường.

Người bệnh suy giáp trung ương có thể là do trục hạ đồi - tuyến yên bị tổn thương. Tình trạng này có thể là do có khối u nằm trên vùng dưới đồi, viêm tuyến yên lymphocytic, kháng TRH, thiếu TRH… Khi có khối u trong hoặc xung quanh tuyến yên làm suy giảm chức năng tuyến yên do gây áp lực lên các tế bào tuyến yên. Từ đó ảnh hưởng đến việc tiết TRH, TSH hoặc cả hai. Các loại thuốc như dopamine và corticosteroid cũng dẫn đến giảm bài tiết TSH. Trường hợp, thiếu TRH là do đột biến gen TRH và được di truyền theo cách lặn tự phát.

Những nguyên nhân nào dẫn đến bệnh suy giáp.

Những nguyên nhân nào dẫn đến bệnh suy giáp.

Triệu chứng của bệnh suy giáp

Các triệu chứng lâm sàng của người bệnh suy giáp

Hội chứng giảm chuyển hóa:

  • Mệt mỏi, chậm chạp. có thể tăng cân.
  • Sợ lạnh, thân nhiệt giảm, chân tay lạnh và khô.
  • Uống ít, đái ít, bài tiết nước tiểu chậm.
  • Do giảm chuyển hóa nên người bệnh suy giáp có thể bị bướu giáp.

Hội chứng da và niêm mạc :

  • Phù niêm do xâm nhiễm chất nhầy dưới da, phù không ấn lõm, mặt xanh xao. Kèm theo đó là tình trạng ít biểu hiện cảm xúc, môi dầy tím tái, trán nhiều nếp nhăn, mi mắt dưới phù nhiều như mọng nước.
  • Bàn tay, bàn chân dầy, ngón to, đầu chi lạnh và tím, nhiễm sắc tố caroten ở lòng bàn tay bàn chân.
  • Da dầy, khô, tóc khô, mỏng, dễ gãy, rụng, móng có sọc và dễ gãy.
  • Thanh hầu to, giọng nói khàn \ ồm, và trầm do chất nhày xâm nhiễm vào thanh quản và dây thanh âm, lưỡi thì to bè ra hai bên.
  • Ù tai, nghe kém do niêm mạc vòi Eustache bị xâm nhiễm chất nhày.

Tim mạch: nhịp tim chậm, huyết áp thấp, tốc độ tuần hoàn giảm, hay đau vùng trước tim. Hiếm khi gặp phải tình trạng tràn dịch màng ngoài tim, tràn dịch màng phổi, suy tim.

Tâm thần kinh: người bệnh suy giáp bị rối loạn tâm thần kinh với triệu chứng thờ ơ vô cảm, nói chậm hay quên, giảm năng lực hoạt động trí óc. Nặng hơn nữa đó là tình trạng trầm cảm sa sút trí tuệ, rối loạn tâm thần.

Ngoài ra, người bệnh suy giáp còn có biểu hiện trên hệ tiêu hóa đó là chán ăn hay bị táo bón.

Trên hệ cơ xương thì có triệu chứng yếu cơ, hay bị đau do chuột rút, người bệnh có thể giảm hoặc mất phản xạ gân xương.

Người bệnh suy giáp cũng có biểu hiện trên hệ sinh dục đó là chậm dậy thì, rong kinh, kinh thưa hoặc vô kinh, giảm hoạt động tình dục thậm chí là vô sinh.

Các bé bị bệnh suy giáp thường chậm phát triển về thể chất và trí tuệ.

Các dấu hiệu của người bệnh suy giáp.

Các dấu hiệu của người bệnh suy giáp.

Các triệu chứng cận lâm sàng của người bệnh suy giáp

Người bệnh suy giáp có chuyển hóa cơ bản giảm xuống dưới 20%. Khi định lượng cholesterol máu cho giá trị cao hơn bình thường, và người bệnh có tình trạng thiếu máu nhược sắc hoặc đẳng sắc.

Nếu người bệnh có tổn thương ở tuyến giáp sẽ cho nồng độ TSH tăng cao, còn trường hợp người bệnh bị tổn thương ở vùng dưới đồi sẽ cho giá trị TSH bình thường hoặc thấp.

Suy giáp nguyên phát gây tăng TRH, có thể gây tăng prolactin cùng với TSH. Nồng độ prolactin ở bệnh nhân suy giáp có xu hướng thấp hơn so với những người thường thấy với u tiết prolactin, thường là 150-200 ng/mL hoặc cao hơn. [1]

Trên đây là các thông tin về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh suy giáp, để tìm hiểu xem điều trị suy giáp như thế nào, các bạn hãy cùng chúng tôi tìm hiểu tại đây.

Copy ghi nguồn :trungtamthuoc.com

Link bài viết :Suy giáp và những triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng

Tài liệu tham khảo :

[1]. Suy giáp: https://emedicine.medscape.com/article/122393-workup#c5


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......