0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ SUY GIÁP Ở NGƯỜI LỚN

https://trungtamthuoc.com/bai-viet/suy-giap-o-nguoi-lon
TrungTamThuoc

, 5 phút đọc

, Cập nhật lần cuối:

Triệu chứng đặc trưng thường gặp ở người bệnh suy giáp đó là tình trạng phù niêm, gặp nhiều ở phụ nữ giai đoạn 40 đến 50 tuổi. Các triệu chứng này xuất hiên từ từ, có thể gây nhầm lẫn với biểu hiện của giai đoạn mãn kinh, bệnh tính hệ thống và ảnh hưởng nhiều cơ quan.

1 Suy giáp là gì?

Suy giáp là một rối loạn nội tiết phổ biến do thiếu hụt hormone tuyến giáp. Trong đó, chủ yếu là do tuyến giáp không thể sản xuất đủ lượng hormone tuyến giáp. Suy giáp cũng có thể là thứ yếu, khi đó là tuyến giáp bình thường, nhưng nó không được kích thích đủ do bài tiết thyrotropin thấp từ tuyến yên.

Suy giáp ở người lớn là gì?

Suy giáp ở người lớn là gì?

1.1 Các nguyên nhân gây suy giáp

Một loạt các rối loạn chức năng hoặc cấu trúc có thể dẫn đến suy giáp, bệnh phụ thuộc vào mức độ và thời gian thiếu hụt hormone tuyến giáp. Hai loại chính là suy giáp nguyên phát và suy giáp thứ phát. Suy giáp nguyên phát do tuyến giáp không có khả năng cung cấp đủ lượng hormone. Suy giáp thứ phát hay suy giáp trung ương do sự kích thích không đủ của tuyến giáp bình thường ở  tuyến yên hoặc vùng dưới đồi.

Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh suy giáp là sự phá hủy tuyến giáp do bệnh lý hoặc một nguyên nhân nào đó.

Suy giáp thứ phát có nguyên nhân từ tuyến yên hoặc vùng dưới đồi. Trường hợp này thường hay gặp ở những người bệnh có khối u  như u tuyến yên, u sọ hầu, rối loạn sắc tố, u thần kinh đệm, di căn. Hay những người bị chấn thương cũng có thể gây suy giáp nhưu phẫu thuật, chiếu xạ, chấn thương đầu... Bệnh cũng có thể gặp ở những người bệnh có bệnh lý mạch máu như hoại tử thiếu máu cục bộ, xuất huyết, phình động mạch cảnh trong...Suy tuyến yên trung ương do nhiễm trùng, thâm nhiễm hay viêm tuyến yên thâm nhiễm tế bào lympho, hay bệnh lý bẩm sinh như: Giảm sản tuyến yên, thoát vị não...

Suy tuyến giáp thứ phát còn có thể do khiếm khuyết chức năng sinh tổng hợp và giải phóng TSH. Trường hợp này thường do đột biến gen mã hóa cho thụ thể TRH, TSH, hoặc do dùng Thuốc như dopamin, glucocorticoid...

Suy tuyến giáp nguyên phát do mất mô tuyến giáp trong bệnh lý như: viêm tuyến giáp tự miễn mạn tính, viêm tuyến giáp tự thầm lặng và sau sinh, viêm tuyến giáp do cytokine gây ra. Bệnh cũng có thể gặp khi người bệnh điều trị phẫu thuật, chiếu xạ tuyến giáp, bệnh nhiễm khuẩn, truyền nhiễm hay rối loạn tuyến giáp...

Người bệnh suy tuyến giáp nguyên phát do khiếm khuyết chức năng trong sinh tổng hợp và giải phóng hormone tuyến giáp như: khuyết tật bẩm inh trong sinh tổng hợp hormone tuyến giáp, bệnh lý thiếu hoặc thừa iod, do dùng thuốc chống ung thư, thuốc lithium, chất ức chế tyrosine kinase...

Ngoài ra, người bệnh còn có thể suy giáp do kháng hormone tuyến giáp trong đột biến gen mã hóa MCT8, TR-α hay TR-β...

2 Chẩn đoán bệnh suy giáp nguyên phát

2.1 Các triệu chứng lâm sàng của người bệnh suy giáp

Triệu chứng đặc trưng thường gặp ở người bệnh suy giáp đó là tình trạng phù niêm, gặp nhiều ở phụ nữ giai đoạn 40 đến 50 tuổi. Các triệu chứng này xuất hiên từ từ, có thể gây nhầm lẫn với biểu hiện của giai đoạn mãn kinh, chúng có tính hệ thống và ảnh hưởng nhiều cơ quan.

Các triệu chứng của người bếnh suy giáp.

Các triệu chứng của người bếnh suy giáp.

Dấu hiệu đặc trưng nhất trong phù niêm ở người bệnh suy giáp nguyên phát đó là da và niêm mạc bị tổn thương.

  • Người bệnh có khuôn mặt đặc trưng, tròn như mặt trăng, nhiều nếp nhăn, ít bộc lộ cảm xúc, thờ ơ và nhìn già hơn tuổi.
  • Ở gò má và môi của người bệnh thì thâm tím, mao mạch bị giãn, môi dày, mí mắt thì phù, đặc biệt ở mi dưới.
  • Những bệnh nhân này có bàn tay, bàn chân dài, thô và to, gan bàn chân và bàn tay bị vàng, da lạnh toát.
  • Dấu hiệu đặc trưng nữa trong trường hợp này là lưỡi thâm, to ra, giọng nói khàn, ù tai, nghe kém và ngáy to, khó thở do niêm mạc mũi sưng. Không những thế, da, lông móng của những bệnh nhân này cũng bị phù cứng, khô, dễ gẫy và bong vẩy.

Do thiếu hụt hormon tuyến giáp nên bệnh nhân suy giáp có các biểu hiện của rối loạn chuyển hóa. Người bệnh không dung nạp lạnh hay sợ rét, giảm thân nhiệt, chân tay khô, lạnh, uống nước ít, chậm bài tiết nước tiểu nên lượng nước tiểu cũng ít hơn. Đặc biệt, ở những bệnh nhân này tuy ăn uống kém hơn bình thường nhưng lại bị béo hơn, lên cân.

Bệnh nhân suy giáp thường có nhịp tim chậm dưới 60 nhịp/phút, huyết áp thấp, giảm tuần hoàn, thậm chí có thể bị đau thắt ngực, suy tim... Người bệnh còn có thể bị tràn dịch màng tim, các thông số trên điện tim bị biến đổi, ST xuống, sóng T dẹt hoặc âm tính...

Người bệnh suy giáp hay có cảm giác mệt mỏi, li bì, thờ ơ, vô cảm, giảm hoạt động thể chất, trí não và chức năng sinh dục. Ở một số người bệnh có gặp tình trạng táo bón kéo dài, giảm nhu động ruột do rối loạn thần kinh thực vật. Có những bệnh nhân bị tổn thương cơ do đó đau, co cơ không tự nhiên, chuột rút...

Phụ thuộc vào nguyên nhân gây suy giáp mà tuyến giáp có thể to hay bình thường, người bệnh cũng có thể bị suy chức năng tuyến thượng thận.

Nữ giới bị suy giáp còn có thể bị rong kinh, kinh nguyệt không đều, chảy sữa mà không mang thai, suy giảm chức năng tình dục.

2.2 Các dấu hiệu cận lâm sàng giúp chẩn đoán bệnh suy giáp

Ở người bệnh suy giáp có tổn thương tại tyến giáp khi định lượng nồng độ TSH trong huyết thanh tăng cao. Còn những bệnh nhan suy giáp thứ phát do tổn thương vùng dưới đồi, tuyến yên thì nồng độ TSH bình thường hoặc thấp.

Hầu hết các bệnh nhân suy giáp đều có nồng độ hormon tuyến giáp bị giảm thấp xuống, nếu suy giáp tiên phát, nồng độ T4 giảm nhiều hơn so với T3.

Khi định lượng I131 ở tuyến giáp cho giá trị nhỏ hơn ở người bình thường, khi xét nghiệm máu thấy cholesterol, TG, LDH tăng cao. Bệnh nhân suy giáp cũng có thể bị thiếu máu đẳng sắc, thiếu máu nhược sắc. Đối với bệnh nhân bị viêm tuyến giáp tự miễn thì nồng độ tự kháng thể trong máy TPOAb tăng lên.

3 Điều trị bệnh suy giáp như thế nào?

Trong điều trị suy giáp mục đích là bình giáp cho người bệnh, duy trì thường xuyên và lâu dài, đồng thời cần dự phòng và điều trị các biến chứng có thể xảy ra. Để làm được điều này, người bệnh cần được điều trị nguyên nhân gây suy giáp, bù hormon tuyến giáp theo tình trạng bệnh lý.

Điều trị bệnh suy giáp như thế nào?

Điều trị bệnh suy giáp như thế nào?

Hầu hết các trường hợp bệnh nhân suy giáp đều phải điều trị thay thế bằng hormon giáp, trong đó các nhóm thuốc được ứng dụng trong điều trị hiện nay như sau:

  • Levothyroxin (L-T4)  có trên thị trường với một số biệt dược như levo-T, levothroid, levoxyl, synthroid. Các chế phẩm này thường được dùng nhiều nhất dưới dạng viên nén, cũng có một số chế phẩm dưới dạng tiêm, hay thuốc nước để uống. Levothyroxin dùng cho bệnh suy giáp có thời gian bán thải khoảng 9 đến 10 ngày.[1] Ban đầu khi sử dụng levothyroxin người bệnh sẽ dùng với liều từ 1,6 - 1,8µg/ kg/ ngày, trong 1 ngày mỗi người bệnh dùng khoảng 25- 300µg/ngày. Liều dùng dành cho nam và nữ có thể khác nhau: Bệnh nhân nữ thường dùng từ 75 - 112µg/ngày, còn bệnh nhân nam dùng với liều từ 125- 200µg/ngày. Nồng độ T4 trong máu sẽ tăng lên, sau 5 đến 6 tuần kể từ khi dùng levothyroxin. Riêng với người bệnh Hashimoto và Basedow nếu bị suy giáp do teo thì có thể tăng 25- 50µg/ngày sau khi điều trị phóng xạ. Sau khi bệnh nhân đã trở về trạng thái bình giáp thì giảm liều xuống tùy theo bệnh nhân, trung bình từ 25 đến 50 hoặc 100µg/ngày.
  • Liothyronine (L-T3) tồn tại trên thị trường với các tên biệt dược như cynomel, cytomel, bào chế dưới dạng viên nén. Liothyronin có thời gian bán thải ngắn, chỉ 0,75 ngày. Với bệnh nhân suy giáp nhẹ, ban đầu uống mỗi ngày 1 lần 25mcg, có thể tăng 25mcg mỗi 1 hoặc 2 tuần. Liều duy trì của liothyronine là 25 đến 75mcg/ngày. Những bệnh nhân bị suy giáp bẩm sinh ban đầu uống mỗi ngày 1 lần 5mcg, có thể tăng 5mcg sau mỗi 3 đến 4 ngày. Thời gian bán thải ngắn nên thường không dùng liothyronin điều trị kéo dài cho bệnh nhân suy giáp.
  • Thuốc được phối hợp liothyronine với levothyroxine theo tỷ lệ 1:4 là liotrix với các biệt dược như euthyral, thyrolar. Người bệnh suy giáp dùng levothyroxine 25mcg và liothyronine 6,25mcg uống mỗi ngày một lần, sau 2 đến 3 tuần lại tăng thêm levothyroxin 12,5mcg-liothyronine 3,1mcg. Hầu hết bệnh nhân cần dùng duy trì levothyroxin 50 mcg-liothyronine 12,5 mcg đến levothyroxine 100 mcg-liothyronine 25 mcg  mỗi ngày.
  • Tinh chất tuyến giáp hay chính là bột giáp đông khô có nguồn gốc từ tuyến giáp động vật. Ban đầu người bệnh cần dùng với liều 2,5µg/ngày và tăng liều dần lên đến liều duy trì mỗi ngày từ 10 đến 20µg/ngày.

Khi sử dụng thuốc suy giáp, ban đầu người bệnh cần dùng với liều nhỏ sau đó tăng dần lên đến liều tối đa. Nếu người bệnh trẻ không mắc kèm các bệnh tim mạch, có thể khởi đầu ngay với liều cao tương ứng 100µg L-T4 mỗi ngày. Còn các đối tượng cao tuổi thì ban đầu nên dùng liều thấp khoảng 1µg/ kg/ ngày, theo dõi tim mạch và điều chỉnh cho phù hợp.

Hy vọng bài viết này sẽ giúp ích cho bạn đọc trong xác định và điều trị bệnh suy giáp ở người lớn hiệu quả.

Trích nguồn tài liệu tham khảo:

[1].Levothyroxine: https://www.drugs.com/ppa/levothyroxine.html

Ngày đăng
Lượt xem: 1522

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0 Thích

Dự phòng bệnh suy giáp như nào?

Bởi: Kiều Oanh vào 11/11/2020 8:18:10 SA

Thích (0) Trả lời
NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ SUY GIÁP Ở NGƯỜI LỚN 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá
Hủy
NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG VÀ ĐIỀU TRỊ SUY GIÁP Ở NGƯỜI LỚN
KM
5 trong 5 phiếu bầu

Cảm ơn dược sĩ nhà thuốc đã tư vấn nhiệt tình cho mình.

Trả lời Cảm ơn (0)

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900888633