0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

SỬ DỤNG ARV TRONG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS

Lượt xem: 1929Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/su-dung-arv-trong-dieu-tri-hivaids 29/05/2020 2:08:18 CH
TrungTamThuoc

Dùng ARV điều trị HIV/AIDS được thực hiện với mục đích để hạn chế và ngăn chăn sự nhân lên của HIV trong cơ thể và phục hồi hệ thống miễn dịch. Thông qua phương pháp điều trị này sớm, sẽ làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong do HIV cùng các bệnh cơ hội khác. Không chỉ vậy, nhờ đó mà cũng làm giảm tỷ lệ lây truyền bệnh từ mẹ sang con.

1. Nguyên tắc tư vấn và xét nghiệm chẩn đoán HIV

Trong tư vấn và xét nghiệm HIV cần tuân thủ theo 5 nguyên tắc bao gồm đồng thuận, bảo mật, tư vấn, chính xác, kết nối cùng chăm sóc, điều trị.

2. Chẩn đoán với đối tượng nhiễm HIV

2.1 Đối tượng là người lớn và trẻ em từ 18 tháng tuổi trở lên

Nếu người nghi ngờ nhiễm bệnh khi xét nghiệm sàng lọc cho kết quả âm tính, cần được tư vấn về thời kỳ cửa sổ. Đây chính là giai đoạn kể từ khi virus xâm nhập cơ thể đến khi phát hiện HIV xét nghiệm, dù kết quả âm tính nhưng họ đã bị nhiễm bệnh. Những người có nguy cơ cao cần thực hiện các biện pháp dự phòng nhiễm và lây HIV và cần kiểm tra lại sau 6 tháng.

Nếu kết quả xét nghiệm sàng lọc là dương tính, phải làm thêm xét nghiệm khẳng định để xác định bệnh HIV. Xét nghiệm này chỉ được thực hiện ở những cơ sở được Bộ Y Tế cấp phép xét nghiệm khẳng định HIV.

Người bệnh cần làm xét nghiệm máu chẩn đoán khi nghi ngờ nhiễm HIV.

Người bệnh cần làm xét nghiệm máu chẩn đoán khi nghi ngờ nhiễm HIV.

2.2 Với các bé dưới 18 tháng tuổi

Đây là trường hợp các bé dưới 18 tháng tuổi có mẹ bị nhiễm HIV, hay nghi ngờ nhiễm bệnh khi có triệu chứng.

Với các bé dưới 9 tháng tuổi có phơi nhiễm HIV cần được làm xét nghiệm PCR.

Các bé từ 9 đến dưới 18 tháng tuổi cần làm xét nghiệm kháng thể kháng HIV trước, nếu dương tính sẽ làm xét nghiệm PCR.

Với các bé nghi ngờ nhiễm HIV, cần làm xét nghiệm kháng thể kháng HIV với người mẹ, nếu dương tính thì tiến hành như trẻ phơi nhiễm.

Những bé và mẹ có kết quả xét nghiệm kháng thể kháng HIV âm tính như vậy trẻ được xác định là không nhiễm HIV.

3. Điều trị HIV bằng thuốc kháng Retro virus - ARV

Phương pháp này được thực hiện với mục đích để hạn chế và ngăn chăn sự nhân lên của HIV trong cơ thể và phục hồi hệ thống miễn dịch.

Thông qua phương pháp điều trị này sớm, sẽ làm giảm tỷ lệ nhiễm bệnh và tử vong do HIV cùng các bệnh cơ hội khác. Không chỉ vậy, nhờ đó mà cũng làm giảm tỷ lệ lây truyền bệnh từ mẹ sang con.

HIV được điều trị bằng thuốc ARV.

HIV được điều trị bằng thuốc ARV.

3.1 Nguyên tắc điều trị HIV

Người bệnh HIV cần được điều trị sớm để hạn chế khả năng nhân lên của virus, đồng thời làm giảm nồng độ của HIV trong máu và suy giảm miễn dịch.

Người bệnh HIV cần được điều trị kết hợp tối thiểu 3 loại thuốc ARV.

Đồng thời, việc điều trị cần diễn ra liên tục, suốt đời và theo dõi trong toàn bộ quá trình điều trị.

Bệnh nhân cần sử dụng thuốc đúng liều, đúng giờ và đúng theo hướng dẫn của bác sĩ.

Với các bé từ 5 tuổi trở lên và người lớn, được chỉ định điều trị ARV khi CD4 từ 500 TB/mm3 trở xuống. Chỉ định điều trị ARV không liên quan đến số lượng tế bào CD4 cũng được dùng với các đối tượng:

  • Người bệnh có nhiễm HIV tiến triển giai đoạn 3 và 4, có thể cùng với nhiễm lao, viêm gan B mạn tính nặng theo quy định.
  • Người đang mang thai và cho con bú có bị HIV.
  • Người bệnh HIV trong khi vợ hay chồng của họ không bị bệnh.
  • Bệnh nhân HIV từ 50 tuổi trở lên hoặc sống, làm việc ở khu vực vùng sâu xa, hải đảo, hoặc có sử dụng ma túy, bán dâm, quan hệ đồng giới.

​Chỉ định điều trị ARV cho các bé dưới 5 tuổi bị nhiễm HIV không căn cứ vào giai đoạn lâm sàng hay tế bào CD4. Hay với các bé dưới 18 tháng tuổi, kết quả PCR dương tính hay có kháng thể kháng HIV và có biểu hiện: nấm miệng, viêm phổi, nhiễm trùng nặng hay bị AIDS.

3.2 Các thuốc kháng retro virus điều trị ARV

Các thuốc kháng retro virus điều trị cho người HIV gồm những thuốc nào?

Các thuốc kháng retro virus điều trị cho người HIV gồm những thuốc nào?

Nhóm thuốc ức chế sao chéo ngược nucleotide:

  • Abacavir (ABC) là một chất tương tự guanosine được phosphoryl hóa thành carbovir triphosphate. Nó gây cản trở DNA polymerase phụ thuộc RNA virus HIV dẫn đến ức chế sự nhân lên của virus.[1]
  • Didanosine(ddI) một chất tương tự nucleoside và sản phẩm khử amin của dideoxyadenosine (ddA). Nó ức chế sự sao chép của HIV ở cả tế bào T và tế bào đơn nhân. Didanosine được chuyển đổi trong tế bào thành mono-, di- và triphosphate của ddA. Các triphosphate ddA này hoạt động như cơ chất và chất ức chế cơ chất sao chép ngược HIV và chất ức chế men sao chép ngược HIV. Do đó thuốc ngăn chặn sự tổng hợp DNA của virus và ngăn chặn sự sao chép của HIV.[2]
  • Emtricitabine (FTC) là một chất tương tự cytosine được phosphoryl hóa nội bào thành emtricitabine 5'-triphosphate. Từ đó, chất này gây cản trở DNA polymerase phụ thuộc RNA virus HIV gây ức chế sự nhân lên của chúng.[3]
  • Lamivudine (3TC), chất tương tự cytosine ức chế sao chép ngược HIV thông qua chấm dứt chuỗi DNA virus. Nó ức chế các hoạt động DNA polymerase phụ thuộc RNA và DNA của enzyme sao chép ngược. Trong viêm gan B, dạng lamivudine monophosphate được tích hợp vào DNA virus bằng polymerase virus viêm gan B, dẫn đến chấm dứt chuỗi DNA.[3]
  • Zidovudine (AZT), chất tương tự thymidine gây cản trở DNA polymerase phụ thuộc RNA của virus HIV dẫn đến ức chế sự nhân lên của nó.[4]
  • Tenofovir (TDF) chất tương tự của adenosine 5'-monophosphate, can thiệp vào DNA polymerase phụ thuộc RNA virus HIV và ức chế sự nhân lên của virus. Đầu tiên TDF được chuyển đổi nội bào bằng cách thủy phân thành tenofovir và sau đó được phosphoryl hóa thành tenofovir diphosphate hoạt động. Tenofovir ức chế sự sao chép của HBV bằng cách ức chế HBV polymerase.[5]

​Nhóm thuốc ức chế sao chép ngược không nucleotide:

  • Các thuốc này là các chất ức chế men sao chép ngược không nucleoside, có hoạt tính chống lại HIV-1 bằng cách liên kết với enzyme sao chép ngược. Do đó, nó ngăn chặn các hoạt động DNA polymerase phụ thuộc RNA và DNA, bao gồm cả sao chép HIV-1.
  • Một số thuốc thuộc nhóm này được dùng cho người bệnh HIV gồm Nevirapine (NVP) Efavirenz (EFV), Etravirine (ETV).

​Nhóm thuốc ức chế Protease:

  • Các thuốc nhóm này bao gồm Atazanavir + ritonavir (ATV/r), Darunavir + ritonavir (DRV/r), Lopinavir/ritonavir (LPV/r).
  • Chúng liên kết với vị trí của hoạt động protease HIV-1, ức chế sự phân cắt của tiền chất polyprotein của virus thành protein chức năng riêng biệt cần thiết cho lây truyền HIV. Điều này dẫn đến sự hình thành các hạt virus chưa trưởng thành, không nhiễm trùng.Thành phần ritonavir ức chế chuyển hóa CYP3A của lopinavir, darunavir, lopinavir cho phép tăng nồng độ các chất này trong huyết tương.

Nhóm thuốc ức chế men tích hợp:

  • Raltegravir, chất ức chế hoạt động xúc tác của integrase, ngăn chặn sự tích hợp của gen provirus vào DNA của người. 

3.3 Các phác đồ điều trị ARV bậc 1

Với đối tượng nhiễm HIV là gười lớn và trẻ từ 10 tuổi trở lên:

  • Ban đầu, bệnh nhân được điều trị bằng cách dùng kết hợp TDF + 3TC + EFV.
  • Nếu người bệnh không được dùng TDF thì thay thế bằng AZT, nếu không dùng được EFV thì dùng NVP, hay có thể thay FTC cho 3TC.
  • Nếu trẻ đủ 10 tuổi trở lên nhưng lại dưới 35kg thì điều tị bằng phác đồ dành cho trẻ em dưới 35kg.

Phác đồ điều trị cho các bé từ 3 đến 10 tuổi:

  • Ban đầu cho các đối tượng này dùng kết hợp các thuốc gồm ABC+ 3TC + EFV.
  • Nếu người bệnh không dùng được ABC thì thay thế bằng AZT, hay dùng NVP thay thế cho EFV, hay FTC thay vì 3TC.

Với các bé dưới 3 tuổi bị nhiễm HIV thì điều trị bằng phác đồ sau:

  • Bắt đầu cho người bệnh dùng phác đồ điều trị bao gồm 3 thuốc ABC + 3TC + LPV/r.
  • Tuy nhiên, có thể thay thế AZT cho ABC, hay NVP cho LPV/r nếu người bệnh có chống chỉ định.

Điều trị dự phòng cho trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV:

  • Các bé sinh ra có mẹ bị nhiễm HIV, được ưu tiên điều trị bằng NVP (Nevirapine).
  • Nếu người mẹ đã được xác định HIV trước sinh, điều trị ARV trên 4 tuần, hoặc không điều trị hoặc điều trị từ 4 tuần trở xuống và không cho con bú thì cho trẻ dụng NVP từ khi sinh đến 6 tuần. Nếu mẹ điều trị bằng ARV từ 4 tuần trở xuống và có cho con bú thì cho trẻ dùng NVP từ khi sinh đến 12 tuần.
  • Nếu mẹ được chẩn đoán HIV sau khi sinh thì cho trẻ dùng NVP trong 12 tuần nếu mẹ được chẩn đoán trong 72 giờ sau sinh hoặc quá 72 giờ nhưng con không bú.
  • Nếu trẻ được chẩn đoán xác định là mắc HIV thì không điều trị NVP nữa mà điều trị ngay ARV.

Thất bại điều trị HIV phác đồ 1 khi:

  • Bé trên 10 tuổi và người lớn có các bệnh lý giai đoạn 4 sau điều trị ARV tối thiểu 6 tháng. Hoặc CD4 giảm xuống thấp hơn trước điều trị hoặc CD4 ít hơn 100 tế bào/mm3 ở 2 lần xét nghiệm liên tiếp cách 6 tháng và không có nhiễm trùng gây giảm CD4.
  • Bé từ 10 tuổi trở xuống mà có các bệnh lý giai đoạn 3 và 4 sau điều trị ARV tối thiểu 6 tháng. Hoặc trẻ không có nhiễm trùng gây giảm CD4 mà trong 2 lần xét nghiệm liên tiếp cách 6 tháng CD4 giảm xuống thấp hơn trước khi điều trị theo tiêu chuẩn.

Các phác đồ điều trị ARV bậc 1, bậc 2 và bậc 3.

Các phác đồ điều trị ARV bậc 1, bậc 2 và bậc 3.

3.4 Các phác đồ điều trị ARV bậc 2

Với các đối tượng từ 10 tuổi trở lên, phụ nữ mang thai và cho con bú có thể điều trị bằng AZT + 3TC (hoặc FTC) kết hợp LPV/r hoặc ATV/r. Nếu ban đầu khi điều trị bằng phác đồ bậc 1 họ có dùng AZT thì phác đồ bậc 2 sẽ tương tự như trên nhưng thay AZT bằng TDF.

  • Với các đối tượng trên vừa nhiễm lao, vừa nhiễm HIV cũng dùng phác đồ điều trị như trên, nhưng tăng liều LPV/r hoặc ATV/r theo hướng dẫn.
  • Nếu người bệnh trên vừa bị HIV vừa nhiễm HBV thì điều trị bằng phác đồ gồm AZT + TDF + 3TC (hay FTC) + ATV/r (hay LPV/r).

​Với các bé dưới 3 tuổi, phác đồ bậc 2 giống như phác đồ bậc 1.

Các bé từ 3 đến 10 tuổi, dựa vào phác đồ bậc 1 nhưng thay LPV/r bằng EFV đồng thời thay ABC với AZT cho nhau.

Tất cả đối tượng nhiễm HIV thất bại với phác đồ bậc 1 thì điều trị bằng AZT + 3TC + LPV/r hoặc ABC (hoặc TDF) + 3TC (hoặc FTC) + LPV/r.

3.5 Phác đồ điều trị ARV bậc 3

Lúc này, người bệnh được sử dụng các chất ức chế men tích hợp raltegravir, thuốc ức chế men sao chép ngược không nucleoside và thuốc ức chế men protease thế hệ hai.

Trên đây là một số thông tin cơ bản về sử dụng ARV trong điều trị HIV, hy vọng sẽ hữu ích với bạn đọc.

4. Trích nguồn tham khảo

[1]. Abacavir: https://www.drugs.com/ppa/abacavir.html.

[2]. Didanosine: https://www.drugs.com/ppa/didanosine.html.

[3]. Lamivudine: https://www.drugs.com/ppa/lamivudine.html

[4]. Zidovudine: https://www.drugs.com/ppa/zidovudine.html

[5]. Tenofovir: https://www.drugs.com/ppa/tenofovir-disoproxil-fumarate.html


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
SỬ DỤNG ARV TRONG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS 5/ 5 4
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá
SỬ DỤNG ARV TRONG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS
5 trong 5 phiếu bầu

Nhà thuốc rất uy tín

Trả lời Cảm ơn (0)
SỬ DỤNG ARV TRONG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS
5 trong 5 phiếu bầu

Nhà thuốc rất uy tín

Trả lời Cảm ơn (0)
SỬ DỤNG ARV TRONG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS
5 trong 5 phiếu bầu

Nhà thuốc rất uy tín

Trả lời Cảm ơn (0)
SỬ DỤNG ARV TRONG ĐIỀU TRỊ HIV/AIDS
5 trong 5 phiếu bầu

Nhà thuốc rất uy tín

Trả lời Cảm ơn (0)

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......