0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Phương pháp chẩn đoán và điều trị sốc nhiễm khuẩn

, 5 phút đọc

, Cập nhật lần cuối:
Lượt xem:
2184

Trungtamthuoc.com - Sốc nhiễm trùng là một tình trạng nghiêm trọng xảy ra khi nhiễm trùng toàn thân dẫn đến huyết áp thấp nguy hiểm. Sốc nhiễm trùng xảy ra thường xuyên nhất ở người già và trẻ nhỏ. Nó cũng có thể xảy ra ở những người có hệ thống miễn dịch suy yếu. [1]

1 Sốc nhiễm khuẩn là gì?

Sốc nhiễm khuẩnnhiễm trùng huyết liên quan đến hạ huyết áp và bất thường tưới máu mặc dù đã cung cấp hồi sức đầy đủ. Bất thường tưới máu bao gồm nhiễm toan lactic, thiểu niệu hoặc thay đổi cấp tính về tình trạng tâm thần. Bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng đang điều trị bằng thuốc tăng co bóp hoặc thuốc vận mạch vẫn có thể biểu hiện bất thường tưới máu, mặc dù thiếu huyết áp.

Vi khuẩn trong máu

Sốc nhiễm trùng xảy ra khi các vi sinh vật lây nhiễm trong máu gây ra phản ứng viêm sâu sắc gây mất bù huyết động. Quá trình sinh bệnh liên quan đến một phản ứng phức tạp của quá trình hoạt hóa tế bào gây ra sự giải phóng vô số chất trung gian tiền viêm. Phản ứng viêm này gây ra hoạt hóa bạch cầu và tế bào nội mô, cũng như kích hoạt hệ thống đông máu. Phản ứng viêm quá mức đặc trưng cho sốc nhiễm trùng được thúc đẩy chủ yếu bởi yếu tố hoại tử khối u cytokinealpha (TNF-α) và interleukin-1 (IL-1), được tạo ra bởi bạch cầu đơn nhân để phản ứng với nhiễm trùng. Mặc dù TNF và IL-1 là trung tâm của sinh lý bệnh của sốc nhiễm trùng và tác động hiệp đồng để gây hạ huyết áp trong các mô hình thực nghiệm, một số chất trung gian quan trọng khác cũng được biết là đóng vai trò chính bao gồm protein hộp 1 (HMGB1) nhóm di động cao. [2]

Tỷ lệ do sốc nhiễm khuẩn chiếm từ 40 đến 60%. Sốc nhiễm khuẩn gây nhiều nguy hiểm đến tính mạng.

2 Nguyên nhân gây sốc nhiễm khuẩn là gì?

Người bệnh bị sốc nhiễm khuẩn do vi khuẩn hoặc nấm nhiễm vào máu từ các ổ nhiễm khuẩn. Nhiễm trùng huyết phổ biến hơn ở những người:

  • Có hệ thống miễn dịch suy yếu do các tình trạng như  HIV hoặc  ung thư hoặc do họ dùng các loại thuốc  như  steroid  hoặc những loại thuốc ngăn chặn đào thải các cơ quan được cấy ghép.
  • Có thai.
  • Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.
  • Là người cao tuổi, đặc biệt nếu họ có các vấn đề sức khỏe khác.
  • Gần đây đã nhập viện hoặc trải qua các cuộc phẫu thuật lớn.
  • Sử dụng ống thông hoặc ống thở.
  • Bị  bệnh tiểu đường.
  • Có tình trạng bệnh lý nghiêm trọng như viêm ruột thừa, viêm phổi, viêm màng não, xơ gan hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu. [3]

3 Triệu chứng sốc nhiễm khuẩn 

3.1 Các triệu chứng lâm sàng

Phản ứng viêm toàn thân (SIRS) đối với nhiễm trùng, biểu hiện bằng ít nhất hai trong số các biểu hiện sau:

  • Thân nhiệt trên 38oC hoặc dưới 36oC.
  • Nhịp tim đạt trên 90 nhịp mỗi phút.
  • Nhịp thở nhanh, trên 20 nhịp thở mỗi phút hoặc áp suất một phần CO2 dưới 32 mmHg.
  • Số lượng bạch cầu trên 12000/mL hoặc dưới 4000/mL, hoặc trên 10% ở dạng chưa trưởng thành.

Nhiễm trùng nặng là nhiễm trùng huyết liên quan đến rối loạn chức năng nội tạng, hạ huyết áp hoặc tăng huyết áp. Các bất thường về giảm tưới máu của các cơ quan cuối có thể bao gồm thiếu máu, thiểu niệu hoặc thay đổi trạng thái tâm thần như: Tăng lactat máu từ 2 trở lên hoặc thể tích nước tiểu dưới 0,5 ml/kg/giờ.

3.2 Các triệu chứng cận lâm sàng

Các xét nghiệm cận lâm sàng trong chẩn đoán tính trạng nhiễm khuẩn bao gồm:

  • Bạch cầu tăng đến trên 10000/mL, đặc biệt là tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính hoặc tỉ lệ bạch cầu chưa trưởng thành trên 10%.
  • Tốc độ máu lắng ở những người bị sốc nhiễm khuẩn tăng, CRP tăng hơn 0,5 mg/dL, procalcitonin hơn 0,125 ng/mL, lactat máu tăng từ 2 mmol/L trở lên...
  • Người bệnh cần làm xét nghiệm vi sinh để tìm nguyên nhân như cấy máu, virus, ký sinh trùng, nấm...
  • Các biểu hiện cận lâm sàng của rối loạn, suy chức năng cơ quan bao gồm suy thận, suy hô hấp, suy gan, nhiễm trùng huyết, toan chuyển hóa...
  • Cần phân biệt sốc nhiễm trùng với sốc giảm thể tích, sốc tim, sốc phản vệ...

4 Phác đồ điều trị sốc nhiễm trùng

Bệnh nhân bị nhiễm trùng huyết và sốc nhiễm trùng phải nhập viện. Bệnh nhân nhiễm trùng huyết đáp ứng với điều trị hồi sức sớm ở khoa cấp cứu.

Xử trí sốc nhiễm trùng như thế nào?

Điều trị bệnh nhân bị sốc nhiễm trùng có các mục tiêu chính sau đây:

Bắt đầu điều trị bằng kháng sinh đầy đủ với liều lượng và phổ thích hợp càng sớm càng tốt.

Xác định nguồn lây nhiễm và điều trị bằng liệu pháp kháng khuẩn, phẫu thuật hoặc phối hợp đồng thời.

Hồi sức cho bệnh nhân, sử dụng các biện pháp hỗ trợ để điều chỉnh tình trạng thiếu oxy, hạ huyết áp và suy giảm oxy mô.

Duy trì đầy đủ chức năng hệ thống cơ quan, được hướng dẫn bằng theo dõi tim mạch và làm gián đoạn tiến triển thành hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan.

​Điều trị ban đầu bao gồm hỗ trợ chức năng hô hấp và tuần hoàn, oxy bổ sung, thở máy và truyền dịch thể tích. Điều trị ngoài các biện pháp hỗ trợ này bao gồm liệu pháp kháng khuẩn hướng vào mầm bệnh, loại bỏ hoặc dẫn lưu các ổ bị nhiễm bệnh. Đồng thời người bệnh cần điều trị các biến chứng và can thiệp để ngăn ngừa và điều trị ảnh hưởng của các phản ứng có hại của vật chủ. Kiểm soát nguồn là một thành phần thiết yếu của quản lý nhiễm trùng huyết.

4.1 Xử trí ban đầu và vận chuyển cấp cứu

Đảm bảo hô hấp và tuần hoàn của người bệnh bằng các phương pháp như sau:

Người bệnh được truyền dịch bao gồm truyền 1000 - 2000 ml NaCl 0,9% hoặc ringerlactat từ 1 đến 2 giờ đầu đảm bảo huyết áp trung bình ≥ 65 mmHg.

Đảm bảo hô hấp bằng liệu pháp oxy như thở oxy, mặt nạ, thở hệ thống áp lực dương liên tục (CPAP) để đảm bảo SpO2 ≥ 92%.

Cho người bệnh dùng thuốc vận mạch như noradrenalin hoặc adrenalin truyền tĩnh mạch liên tục, bắt đầu với liều 0,05 mcg/kg/phút.

4.2 Kháng sinh điều trị sốc nhiễm khuẩn

Điều trị cho người bệnh sốc nhiễm khuẩn như thế nào?

Xác định căn nguyên nhiễm khuẩn và dùng kháng sinh cho người bệnh sốc nhiễm khuẩn:

  • Cần tim được ổ nhiễm khuẩn và cấy máu tìm vi khuẩn gây sốc nhiễm khuẩn trước khi dùng kháng sinh.
  • Người bệnh được chọc hút, dẫn lưu ổ nhiễm khuẩn căn cứ vào tình trạng bệnh.
  • Cho bệnh nhân dùng kháng sinh tiêm tĩnh mạch càng sớm càng tôt, đặc biệt ngay giờ đầu khi chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn.
  • Người bệnh được dùng kháng sinh phổ rộng theo kinh nghiệm, rồi lựa chọn kháng sinh theo kháng sinh đồ.
Nghi nhiễm vi khuẩn

Kháng sinh lựa chọn 

Kháng sinh thay thế

Khuẩn Gram- đường ruột  Enterobacteriaceae không  sinh ESBL

Ciprofloxacin kết hợp Ceftriaxone

Cephalosporin thế hệ 3 và 4 khác và nhóm fluoroquinolon

Khuẩn Gram- đường ruột  Enterobacteriaceae sinh ESBL

Ertapenem

Imipenem-cilastatin hoặc Meropenem hoặc Doripenem

Pseudomonas aeruginosa

Ceftazidime hoặc Cefepim hoặc Piperacillin-tazobactam

Ciprofloxacin  kết hợp Imipenem-cilastatin và Meropenem

Burkholderia pseudomallei

Ceftazidime

Imipenem-cilastatin và Meropenem

Streptococcus pneumoniae

Ceftriaxone  hoặc Cefotaxime

Levofloxacin và Vancomycin

Staphylococcus aureus (nhạy Methicilin)

Oxacilin

Vancomycin

Staphylococcus aureus (kháng Methicilin)

Oxacilin

Daptomycin

Streptococcus suis

Ampicilin

Ceftriaxon

Clostridium perfringens  

Penicilin  và Metronidazole

Clindamycin

Bacteroides fragilis 

Metronidazole 

 

Các đối tượng cần kết hợp kháng sinh bao gồm: Những người bệnh giảm bạch cầu, nhiễm trực khuẩn mủ xanh, cầu khuẩn đường ruột...

Với người bệnh bị sốc nhưng đáp ứng vận mạch kém hoặc chưa cắt được vận mạch sau 48 tiếng thì cho dùng hydrocortison liều 50mg cách 6 giờ.

5 Phục hồi sau nhiễm trùng huyết

Người bệnh sốc nhiễm khuẩn cần đề phòng huyết khối tĩnh mạch bằng cách tiêm heparin trọng lượng phân tử thấp hoặc dùng bao thay đổi áp lực. Ngoài ra cần đề phòng xuất huyết tiêu hóa theo hướng dẫn cho bệnh nhân bị sốc nhiễm khuẩn.

Hầu hết mọi người hồi phục hoàn toàn sau nhiễm trùng huyết dù có thể mất thời gian. Các vấn đề sau điều trị có thể kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm sau khi bạn bị nhiễm trùng huyết. Những tác động lâu dài này đôi khi được gọi là hội chứng sau nhiễm trùng huyết, và có thể bao gồm:

Cảm thấy rất mệt mỏi và yếu, và khó ngủ

  • Chán ăn.
  • Bị bệnh thường xuyên hơn.
  • Thay đổi tâm trạng của bạn, hoặc lo lắng hoặc trầm cảm.
  • Ác mộng hoặc hồi tưởng.
  • Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD). [4]

Trên đây là các thông tin cơ bản về sốc nhiễm khuẩn, hy vọng sẽ hữu ích với bạn đọc trong quá trình điều trị và phát hiện kịp thời bệnh.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Tác giả: Chuyên gia của Medlineplus, Septic shock, Medlineplus. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2021
  2. ^ Tác giả: StephenTrzeciakR. Phillip, DellingerJoseph E.Parrillo, Septic Shock, Sciencedirect. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2021
  3. ^ Tác giả: Mary Anne Dunkin, Sepsis, WebMD. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2021
  4. ^ Tác giả: Chuyên gia của NHS.UK, Sepsis, NHS.UK. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2021
Ngày đăng
Lượt xem: 2184

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0 Thích

Nguyên nhân gây sốc nhiễm khuẩn là gì?

Bởi: thùy dương vào 09/11/2020 4:20:03 CH

Thích (0) Trả lời
Phương pháp chẩn đoán và điều trị sốc nhiễm khuẩn 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá
Hủy
Phương pháp chẩn đoán và điều trị sốc nhiễm khuẩn
YT
5 trong 5 phiếu bầu

thông tin bổ ích, tôi thường xuyên theo dõi ở đây, mong các bạn tiếp tục cung cấp các thông tin y tế sức khỏe cho mọi người

Trả lời Cảm ơn (0)

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633