0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Rối loạn lipid máu và đại cương các thuốc điều trị

, 9 phút đọc

, Cập nhật lần cuối:
Lượt xem:
4168

Trungtamthuoc.com - Mỗi thành phần trong cơ thể đều có những vai trò quan trọng khác nhau, khi chúng ở trạng thái cân bằng, cơ thể sẽ khỏe mạnh. Tuy nhiên, khi bất cứ một thành phần nào bị rối loạn sẽ dẫn đến những bệnh lý vô cùng nguy hiểm. Rối loạn lipid máu chính là một bệnh lý tim mạch, nếu không hiểu rõ và có hướng xử trí kịp thời sẽ để lại những hệ lụy nghiệm trọng. Sau đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu về lipid máu và tại sao khi rối loạn lại nguy hiểm.

1 Rối loạn lipid máu là gì?

Lipid máu hay còn được gọi là mỡ máu, là một thành phần quan trọng trong cơ thể, nó bao gồm nhiều thành phần khác nhau, có thể kể đến như cholesterol, triglycerid..., trong đó quan trọng nhất là cholesterol.

Không ít người cho rằng, cholesterol là xấu. Tuy nhiên, nó có nhiều vai trò vô cùng quan trọng, là thành phần không thể thiếu ở nhiều cơ quan, bộ phận và các hormon trong cơ thể, đảm bảo cho cơ thể phát triển khỏe mạnh.

Các thành phần chính trong lipid máu bao gồm:

  • LDL - Cholesterol: Đây là cholesterol tỷ trọng thấp, được coi là cholesterol xấu. Bởi vì thành phần này là căn nguyên dẫn đến tình trạng bệnh lý xơ vữa động mạch. Khi tăng nhiều, nó gây lắng đọng ở thành mạch máu, tạo nên các mảng xơ vữa. Các mảng xơ vữa này gây hẹp và tắc các mạch máu, gây tình trạng nhồi máu cơ tim, tai biến mãu não vô cùng nguy hiểm. Giá trị tối ưu của chỉ số này nên ở mức dưới 100 mg/dl.
  • HDL - Cholesterol: Hay còn gọi là cholesterol tỷ trọng cao, đây là cholesterol tốt, có chức năng vận chuyển cholesterol từ máu về gan và vận chuyển cholesterol khỏi các mảng xơ vữa. Chính vì vậy, HDL - Cholesterol cao giúp hạn chế nguy cơ xơ vữa động mạch và các biến cố tim mạch.
  • Triglycerid: Đây cũng là một thành phần quan trọng của Lipid máu. Tình trạng tăng triglycerid máu thường gặp ở những người thừa cân, béo phì, uống nhiều rượu, hút thuốc lá...Tăng glycerid máu cnahr báo các nguy cơ các bệnh về tim mạch.
  • Lp (a) Cholesterol: Đây là một dạng biến thể của LDL - Cholesterol. Khi chỉ số này tăng làm gia tăng nguy cơ hình thành nên các mảng xơ vữa.
Rối loạn lipid máu
Rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu là một tình trạng bệnh lý trong đó có một hay một số thông số xét nghiệm lipid máu bị rối loạn, ví dụ như tăng LDL - cholesterol, giảm HDL - cholesterol (tức là giảm cholesterol “tốt” và tăng cholesterol “xấu”),... Hậu quả của các rối loạn này là gây ra các bệnh lý nguy hiểm như bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch vằng, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim...[1]

2 Các nguyên nhân gây rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu có thể do di truyền hoặc thứ phát từ lối sống và các yếu tố khác.

Người bệnh rối loạn lipid máu do đột biến gen đơn hoặc đa gen. Từ đó, dẫn đến việc sản xuất quá mức hoặc giải phóng khiếm khuyết triglyceride và LDL, hoặc do sản xuất quá mức hoặc giải phóng quá mức HDL.

Bệnh nhân bị rối loạn lipid máu thứ phát do lối sống ít vận động, ăn uống quá nhiều calo, chất béo bão hòa, cholesterol và chất béo chuyển hóa. Các nguyên nhân thứ phát phổ biến khác của rối loạn lipid máu gồm các bệnh lý đái tháo đường, bệnh thận mạn tính, suy giáp, xơ gan, dùng thuốc, nghiện rượu...

Trong đó tiểu đường là một nguyên nhân thứ phát đặc biệt quan trọng vì người bệnh có xu hướng xơ vữa động mạch kết hợp tăng triglycerid, LDL, và giảm HDL. Bệnh nhân tiểu đường typ 2 đặc biệt có nguy cơ. Sự kết hợp này có thể là hậu quả của bệnh béo phì, kiểm soát bệnh tiểu đường kém. Do đó làm tăng axit béo tự do, dẫn đến tăng sản xuất lipoprotein mật độ rất thấp ở gan (VLDL), thúc đẩy hình thành LDL dày đặc và giải phóng HDL. Rối loạn mỡ máu do tiểu đường thường trầm trọng hơn khi người bệnh tăng calo và không hoạt động thể chất.

Tiểu đường là nguyên nhân thứ phát gây rối loạn lipid máu
Tiểu đường là nguyên nhân thứ phát gây rối loạn lipid máu

Các loại thuốc làm rối loạn lipid máu như Thiazide, Retinoids, thuốc kháng Retrovirus dược tính mạnh, Cyclosporine, Estrogen và Proestin và Glucocorticoids...

Những người nghiện rượu bị rối loạn lipid máu chủ yếu là do tăng triglycerid.

3 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lipid máu

Hội Tim mạch Việt Nam khuyến cáo tất cả người lớn > 20 tuổi nên đi xét nghiệm lipid máu 5 năm một lần. Thành phần xét nghiệm bao gồm LDL, HDL, triglycerid và cholesterol toàn phần để có thể phòng ngừa và phát hiện sớm các rối loạn lipid máu.

Vậy như thế nào là một kết quả xét nghiệm lipid máu bị rối loạn?

HDL: đối với nam < 40 mg/dL (1 mmol/L) và đối với nữ < 50 mg/dL (1.3 mmol/L). Kết quả này được cho là HDL thấp.

LDL:

  • ≥ 189 mg/dL (4,90 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu rất cao.
  • 160 - 189 mg/dL (4,15 - 4,90 mmol/L) : nguy cơ rối loạn lipid máu cao.
  • 130 - 159 mg/dL (3,37 - 4,12 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu tăng.
  • 100 - 129 mg/dL (2,59 - 3,34 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu trên bình thường.
  • < 130 mg/dL (<3,3 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu thấp.
Xét nghiệm lipid máu
Xét nghiệm lipid máu

Triglycerid:

  • ≥ 500 mg/dL (6 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu rất cao.
  • 200 - 499 mg/dL (2 - 6 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu cao.
  • 150 - 199 mg/dL (1,7 - 2 mmol/ L): nguy cơ rối loạn lipid máu trên bình thường.
  • < 100 mg/dL: nguy cơ rối loạn lipid máu thấp.

Cholesterol:

  • < 200 mg/dL (5,1 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu thấp.
  • 200 - 239 mg/dL (5,1 - 6,2 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu trên bình thường.
  • ≥ 240 mg/dL (6,2 mmol/L): nguy cơ rối loạn lipid máu cao.

4 Triệu chứng rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu thường không gây ra triệu chứng nhưng có thể dẫn đến các bệnh mạch máu như bệnh động mạch vành (CAD), đột quỵ và bệnh động mạch ngoại biên.

Nồng độ triglycerid cao trên 500 mg/dL tương đương trên 5,65 mmol/L có thể gây viêm tụy cấp. Nồng độ triglycerid rất cao cũng có thể gây ra gan lách to, dị cảm, khó thở và nhầm lẫn.

Nồng độ LDL cao có thể gây ra viêm giác mạc và u vàng ở gân Achilles, khuỷu tay và gân đầu gối và trên các khớp bàn tay - ngón tay. Những phát hiện lâm sàng khác xảy ra ở những bệnh nhân mắc LDL cao như các u, mảng vàng giàu lipid trên mí mắt giữa. U vàng cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân bị xơ gan mật nguyên phát và nồng độ lipid bình thường.

Bệnh nhân bị tăng cholesterol máu có tính chất gia đình đồng dạng hợp tử có thể bị viêm giác mạc, u vàng gân và ban vàng quanh mắt.

Triệu chứng rối loạn lipid máu
Triệu chứng rối loạn lipid máu

Bệnh nhân bị tăng triglycerid nghiêm trọng có thể có u vàng trên thân, lưng, khuỷu tay, mông, đầu gối, bàn tay và bàn chân.

Tăng triglycerid máu nặng trên 2000 mg/dL tương đương trên 22,6 mmol/L có thể làm cho các động mạch võng mạc và tĩnh mạch xuất hiện màu trắng kem. Khi nồng độ lipid cực cao cũng khiến huyết tương có màu như sữa. Ngoài ra, người bệnh còn có thể có các triệu chứng có thể bao gồm dị cảm, chứng khó thở và nhầm lẫn.[2]

5 Biến chứng nguy hiểm của rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu, thường gặp nhất là tăng cholesterol máu, tình trạng này đã được chứng minh là yếu tố nguy cơ gây nên các bệnh lý về tim mạch.

Khi LDL cholesterol tăng cao trong máu, nó sẽ từ từ lắng đọng vào thành các mạch máu, kết hợp với một số chất khác tạo nên các mảng xơ vữa khiến lòng mạch máu hẹp dần và tắc, nguy hiểm nhất đối với mạch não và mạch tim.

Các mạch máu với chức năng vận chuyển oxy và các chất dinh dưỡng đến các vị trí trong cơ thể, đảm bảo các hoạt động bình thường của cơ thể. Khi cholesterol và các thành phần khác lắng đọng, hẹp lòng mạch, cản trở lưu thông máu. Từ đó dẫn đến thiếu máu nuôi dưỡng cơ quan một cách mạn tính.

Hoặc các mảng xơ vữa bị nứt vỡ có thể gây tắc mạch máu đột ngột, dẫn đến các hậu quả vô cùng nguy hiểm như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch não…[3]

Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ gây nên các bệnh lý về tim mạch
Rối loạn lipid máu là yếu tố nguy cơ gây nên các bệnh lý về tim mạch

6 Nhóm thuốc điều trị tăng lipid máu

6.1 Các thuốc hạ mỡ máu nhóm statin

Các thuốc này có vai trò ức chế enzym Hydroxymethylglutaryl CoA Reductase, do đó làm ức chế tổng hợp cholesterol toàn phần, kích thích tăng tổng hợp LDL-cholesterol. Từ đó, LDL-cholesterol được tăng lưu trữ tại gan, giảm LDL - cholesterol máu, VLDL, cholesterol toàn phần, triglycerid và tăng HDL - cholesterol. Không những thế các thuốc nhóm statin còn làm giảm viêm nội mạc mạch máu, làm thoái lui mảng xơ vữa, tăng tổng hợp nitric oxide ở tế bào nội mạc.[4]

Trong đó, một số thuốc nhóm statin thường dùng điều trị rối loạn lipid máu do tăng LDL - cholesterol, cholesterol toàn phần là:

  • Atorvastatin, Simvastatin mỗi ngày dùng 1 lần từ 10 đến 20 mg, tối đã một ngày không dùng nhiều hơn 80mg.
  • Rosuvastatin được dùng với liều ban đầu là 10 - 20 mg/ngày, sau đó duy trì với liều 5 đến 40mg/ngày, mỗi ngày uống 1 lần.
  • Lovastatin, Fluvastatin, Pravastatin mỗi ngày uống 1 lần với liều từ 20 đến 40 mg, liều uống trong 1 ngày không được vượt quá 80mg.

Khi sử dụng các thuốc nhóm statin người bệnh có thể gặp tác dụng không mong muốn như tăng men gan, tăng men cơ nếu uống với liều cao. Do đó cực kì cần thận khi sử dụng cho người bệnh gan, suy giảm chức năng gan.

Thuốc hạ mỡ máu nhóm statin
Thuốc hạ mỡ máu nhóm statin

6.2 Thuốc hạ mỡ máu nhóm fibrate

Các thuốc nhóm fibrate làm giảm triglycerid do kích thích PPAR-α, tăng oxy hóa acid béo và tổng hợp ipoprotein Lipase. Từ đó tăng thanh thải các lipoprotein giàu triglycerid và VLDL. Đồng thời, các fibrat cũng làm tăng các HDL - cholesterol.

Các fibrate được dùng cho người bệnh tăng triglycerid với liều như sau:

  • Gemfibrozil thường được dùng với liều mỗi ngày 600mg.
  • Clofibrat được dùng với liều mỗi ngày là 1000 mg.
  • Fenofibrat mỗi ngày uống với liều 145 mg.

Khi sử dụng các fibrate người bệnh có thể bị rối loạn tiêu hóa như đầy hơi, trướng bụng, buồn nôn. Không những thể chức năng gan còn có thể bị giảm nhẹ, men gan tăng lên, sỏi mật, tăng men cơ. Các phản ứng này thường xảy ra với liều cao, người già, người đã suy giảm chức năng gan, thận trước đó. Nếu sử dụng kèm với các thuốc chống đông, đặc biệt là vitamin K có thể làm tăng tác dụng của các thuốc này. Không được sử dụng các thuốc này cho phụ nữ mang thai và cho con bú và những người có bệnh lý gan, thận.

Thuốc hạ mỡ máu nhóm fibrate
Thuốc hạ mỡ máu nhóm fibrate

6.3 Thuốc hạ mỡ máu nhóm acid nicotinic (Niacin, Vitamin PP)

Thuốc nhóm acid nicotinic làm giảm triglycerid do ức chế phân hủy các tổ chức mỡ và giảm tổng hợp triglyceird, acid béo và quá trình ester hóa chúng tại gan. Kết quả của quá trình trên các acid nicotinic làm giảm VLDL, LDL - cholesterol và tăng HDL - cholesterol.

Trên thị trường có các chế phẩm Niacor, Niaspan, Slo-niacin với các hàm lượng 100mg, 250mg và 500mg, dùng cho người bị tăng VLDL, LDL - cholesterol, TG như sau:

  • Các thuốc niacin giải phóng nhanh, ban đầu mỗi ngày uống 1 lần sau ăn tối 250mg, cứ sau 4 đến 7 ngày có thể tăng liều lên đến 1,5g - 2g. Mỗi ngày không được dùng quá 6g chia làm 2 đến 3 lần.
  • Các thuốc niacin giải phóng chậm, 4 tuần đầu dùng mỗi ngày 500mg, 3 tuần tiếp theo uống liều 1000g. Thuốc này được uống khi đi ngủ, nếu sau tuần 8 hiệu quả không mong muốn có thể tăng liều dần đến tối đa 2000g. 

Sử dụng các niacin liều cao người bệnh có thể bị đỏ phừng mặt, ngứa, rối loạn tiêu hóa như đầy hơi, trướng bụng. Đồng thời chức năng gan, mật cũng có thể giảm sút và tăng kháng Insulin.

6.4 Thuốc hạ mỡ máu nhóm resin

Các thuốc nhóm resin có tác dụng tăng tổng hợp acid mật từ cholesterol và thúc đẩy bài tiết acid mật, làm giảm cholesterol ở gan giúp hạ mỡ máu. Tuy nhiên, khi sử dụng các thuốc này, người bệnh có thể bị rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, táo bón, đầy hơi.

Cholestyramine được sử dụng với liều ban đầu là 4g, mỗi ngày từ 1 đến 2 lần, sau đó duy trì với liều 8g chia làm 2 lần. Liều dùng tối đa mỗi ngày của cholestyramine là 24g.[5]

Colestipol được dùng với liều ban đầu là 2g, uống 1 lần hoặc chia làm 2 lần. Liều duy trì từ 2 đến 16g mỗi ngày 1 đến 2 lần.

Colesevelam được sử dụng với liều mỗi ngày uống 3,75 gam, có thể uống 1 lần hoặc chia làm 2 lần.

6.5 Thuốc hạ mỡ máu Ezetimibe

Ezetimibe ức chế sự hấp thụ cholesterol ở ruột non thông qua chất vận chuyển sterol. Điều này dẫn đến việc giảm lượng cholesterol cung cấp cho gan, giảm lượng cholesterol dự trữ trong gan và tăng độ thanh thải cholesterol trong máu. Từ đó làm giảm cholesterol toàn phần, LDL - cholesterol, ApoB và triglyceride trong khi đó tăng HDL - cholesterol. Một số ít tường hợp bệnh nhân khi sử dụng ezetimibe có thể bị tăng men gan.

Các thuốc có thành phần tác dụng chính là Ezetimibe được dùng với liều mỗi ngày 1 lần 10mg.

Thuốc hạ mỡ máu Ezetimibe
Thuốc hạ mỡ máu Ezetimibe

6.6 Thuốc có chứa acid béo không bão hóa Omega 3

Omega-3 làm giảm sản xuất ở gan các lipoprotein mật độ rất thấp và giàu chất béo trung tính. Các cơ chế tế bào có thể bao gồm ức chế acyl CoA, tăng oxy hóa ty lạp thể và peroxisomal beta, và giảm tổng hợp triglyceride ở gan. Được sử dụng cho các trường hợp bệnh nhân bị tăng triglycerid với liều 4g mỗi ngày, uống 1 lần hoặc 2 lần.

7 Chế độ ăn uống, sinh hoạt cho người rối loạn lipid máu

Mặc dù rối loạn lipid máu được cho rằng là một trong những yếu tố có thể dẫn đến các bệnh lý tim mạch trong đó bao gồm nhồi máu cơ tim. Nhưng mọi người hoàn toàn có thể làm giảm thiểu các nguy cơ gây nên tình trạng rối loạn lipid máu bằng các biện pháp cũng như thói quen hết sức đơn giản như sau:

Trước hết, những người thừa cân, béo phì có rối loạn mỡ máu cần hạn chế năng lượng đưa vào và kết hợp thể dục thể thao, hoạt động thể lực để giảm cân. Từ đó sẽ giúp làm giảm mỡ xấu, giảm trglycerid và LDL-cholesterol, đồng thời tăng HDL-cholesterol, kiểm soát đường máu và huyết áp.

Rối loạn lipid máu nên ăn gì? Hạn chế và giảm thiểu đồ ăn chưa nhiều acid béo bão hòa như mỡ lợn, bò, cừu… Và hạn chế các thực phẩm chứa cholesterol trong lòng đỏ trứng, bơ, tôm… Thay thế bằng các acid béo không bão hòa chiết xuất từ thực vật như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu bắp, dầu oliu…[6]

Chế độ ăn uống cho người rối loạn lipid máu
Chế độ ăn uống cho người rối loạn lipid máu

Bữa ăn hàng ngày của người bệnh cần cân đối glucid, lipid và protid, không dùng quá nhiều glucid, chỉ chiếm 50%, 30% là lipid và 20% là protid.

Người bệnh cần hạn chế tối đa bia, rượu, không sử dụng đồ ăn nhanh, nước ngọt, đồng thời tăng lượng chất xơ, vitamin, và các khoáng tố vi lượng.

Mỗi ngày hoạt động thể lực khoảng 30 đến 45 phút, mỗi tuần 5 ngày, các bài tập có cường độ phù hợp với thể trạng người bệnh rối loạn mỡ máu.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Tác giả: Nikos Pappan, Anis Rehman (Ngày đăng: ngày 15 tháng 7 năm 2021). Dyslipidemia, NCBI. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  2. ^ Tác giả: Jennifer Huizen (Ngày đăng: ngày 17 tháng 5 năm 2018). Dyslipidemia: Everything you need to know, Medical News Today. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  3. ^ Tác giả: James Beckerman, MD, FACC (Ngày đăng: ngày 16 tháng 7 năm 2020). What Is Hyperlipidemia?, WebMD. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  4. ^ Tác giả: Mary Ellen T Sweeney, MD (Ngày đăng: ngày 23 tháng 7 năm 2021). Which medications in the drug class Lipid-Lowering Agents, Statins are used in the treatment of Hypertriglyceridemia?, Medscape. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  5. ^ Tác giả: Chuyên gia Drugs.com (Ngày đăng: ngày 30 tháng 4 năm 2021). Cholestyramine Dosage, Drugs.com. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
  6. ^ Tác giả: Peter M Clifton (Ngày đăng: ngày 7 tháng 12 năm 2018). Diet, exercise and weight loss and dyslipidaemia, PubMed. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021.
Ngày đăng
Lượt xem: 4168

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
  • 0 Thích

    statin được sử dụng để điều trị các trường hợp nào?


    Thích (0) Trả lời
Rối loạn lipid máu và đại cương các thuốc điều trị 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
  • Rối loạn lipid máu và đại cương các thuốc điều trị
    OT
    Điểm đánh giá: 5/5

    thông tin uy tín, chính xác, các bạn nên theo dõi các bài viết ở đây

    Trả lời Cảm ơn (0)
logo
Nhà thuốc uy tín số 1 Nhà thuốc
uy tín số 1
Cam kết 100% chính hãng Cam kết 100%
chính hãng
Dược sĩ giỏi tư vấn miễn phí Dược sĩ giỏi tư
vấn miễn phí
Giao hàng toàn quốc Giao hàng
toàn quốc
Gửi
vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633