0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG, ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN LIPID MÁU

Lượt xem: 1912Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/roi-loan-chuyen-hoa-lipid-mau 16/04/2020 2:05:14 CH
TrungTamThuoc

Bệnh nhân bị rối loạn lipid máu thứ phát do lối sống ít vận động, ăn uống quá nhiều calo, chất béo bão hòa, cholesterol và chất béo chuyển hóa. Vậy điều trị rối loạn lipid máu như thế nào?

1 Rối loạn lipid máu là gì?

Rối loạn lipid máu là rối loạn chuyển hóa lipoprotein, bao gồm thừa hoặc thiếu lipoprotein. Những rối loạn này có thể được biểu hiện bằng sự gia tăng nồng độ cholesterol toàn phần trong huyết thanh, nồng độ cholesterol và LDL-cholesterol và giảm nồng độ HDL-cholesterol... Hậu quả của các rối loạn này là gây ra các bệnh lý nguy hiểm như bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch vằng, tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim...

2 Các nguyên nhân rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu có thể do di truyền hoặc thứ phát từ lối sống và các yếu tố khác.

Người bệnh rối loạn lipid máu do đột biến gen đơn hoặc đa gen. Từ đó, dẫn đến việc sản xuất quá mức hoặc giải phóng khiếm khuyết triglyceride và LDL, hoặc do sản xuất quá mức hoặc giải phóng quá mức HDL.

Các nguyên nhân gây rối loạn lipid máu

Các nguyên nhân gây rối loạn lipid máu

Bệnh nhân bị rối loạn lipid máu thứ phát do lối sống ít vận động, ăn uống quá nhiều calo, chất béo bão hòa, cholesterol và chất béo chuyển hóa. Các nguyên nhân thứ phát phổ biến khác của rối loạn lipid máu gồm các bệnh lý đái tháo đường, bệnh thận mạn tính, suy giáp, xơ gan, dùng thuốc, nghiện rượu...

Trong đó tiểu đường là một nguyên nhân thứ phát đặc biệt quan trọng vì người bệnh có xu hướng xơ vữa động mạch kết hợp tăng triglycerid, LDL, và giảm HDL. Bệnh nhân tiểu đường typ 2 đặc biệt có nguy cơ. Sự kết hợp này có thể là hậu quả của bệnh béo phì, kiểm soát bệnh tiểu đường kém. Do đó làm tăng axit béo tự do, dẫn đến tăng sản xuất lipoprotein mật độ rất thấp ở gan (VLDL).thúc đẩy hình thành LDL dày đặc và giải phóng HDL. Rối loạn mỡ máu do tiểu đường thường trầm trọng hơn khi người bệnh tăng calovà không hoạt động thể chất.

Các loại thuốc làm rối loạn lipid máu như thiazide, retinoids, thuốc kháng retrovirus dược tính mạnh, cyclosporine, estrogen và proestin và glucocorticoids...

Những người nghiện rượu bị rối loạn lipid máu chủ yếu là do tăng triglycerid.

3 Triệu chứng rối loạn lipid máu

Rối loạn lipid máu thường không gây ra triệu chứng nhưng có thể dẫn đến các bệnh mạch máu như bệnh động mạch vành (CAD), đột quỵ và bệnh động mạch ngoại biên .

Nồng độ triglyceride cao trên 500 mg/dL tương đương trên 5,65 mmol/L có thể gây viêm tụy cấp. Nồng độ triglyceride rất cao cũng có thể gây ra gan lách to, dị cảm, khó thở và nhầm lẫn.

Triệu chứng của rối loạn lipid máu.

Triệu chứng của rối loạn lipid máu.

Nồng độ LDL cao có thể gây ra viêm giác mạc và u vàng ở gân Achilles, khuỷu tay và gân đầu gối và trên các khớp bàn tay - ngón tay. Những phát hiện lâm sàng khác xảy ra ở những bệnh nhân mắc LDL cao như  các u, mảng vàng giàu lipid trên mí mắt giữa. U vàng cũng có thể xảy ra ở những bệnh nhân bị xơ gan mật nguyên phát và nồng độ lipid bình thường.

Bệnh nhân bị tăng cholesterol máu có tính chất gia đình đồng dạng hợp tử có thể bị viêm giác mạc, u vàng gân và ban vàng quanh mắt.

Bệnh nhân bị tăng triglycerid nghiêm trọng có thể có u vàng trên thân, lưng, khuỷu tay, mông, đầu gối, bàn tay và bàn chân.

Tăng triglyceride máu nặng trên 2000 mg/dL tương đương trên 22,6 mmol/L có thể làm cho các động mạch võng mạc và tĩnh mạch xuất hiện màu trắng kem. Khi nồng độ lipid cực cao cũng khiến huyết tương có màu như sữa. Ngoài ra, người bệnh còn có thể có các triệu chứng có thể bao gồm dị cảm, chứng khó thở và nhầm lẫn.

4 Rối loạn lipid máu điều trị như thế nào?

Rối loạn lipid máu được điều trị như thế nào?

Rối loạn lipid máu được điều trị như thế nào?

Nguyên tắc điều trị rối loạn lipid máu

Điều trị rối loạn lipid máu chúng ta cần đồng thời thay đổi lối sống và dùng thuốc hạ lipid máu theo các phác đồ điều trị phù hợp.

4.1 Chế độ ăn uống, sinh hoạt cho người rối loạn lipid máu

Trước hết, những người thừa cân, béo phì có rối loạn mỡ máu cần hạn chế năng lượng đưa vào và kết hợp thể dục thể thao, hoạt động thể lực để giảm cân. Từ đó sẽ giúp làm giảm mỡ xấu, giảm trglycerid và LDL-cholesterol, đồng thời tăng HDL-cholesterol, kiểm soát đường máu và huyết áp.

Hạn chế và giảm thiểu đồ ăn chưa nhiều acid béo bão hòa như mỡ lợn, bò, cừu… Và hạn chế các thực phẩm chứa cholesterol trong lòng đỏ trứng, bơ, tôm… Thay thế bằng các acid béo không bão hòa chiết xuất từ thực vật như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu bắp, dầu oliu…

Bữa ăn hàng ngày của người bệnh cần cân đối glucid, lipid và protid, không dùng quá nhiều glucid, chỉ chiếm 50%, 30% là lipid và 20% là protid.

Người bệnh cần hạn chế tối đa bia, rượu, không sử dụng đồ ăn nhanh, nước ngọt, đồng thời tăng lượng chất xơ, vitamin, và các khoáng tố vi lượng.

Mỗi ngày hoạt động thể lực khoảng 30 đến 45 phút, mỗi tuần 5 ngày, các bài tập có cường độ phù hợp với thể trạng người bệnh rối loạn mỡ máu.

Điều chỉnh lối sống của người rối loạn mỡ máu.

Điều chỉnh lối sống của người rối loạn mỡ máu.

4.2 Các thuốc giảm lipid máu

Nếu khi đã thay đổi lối sống được 2 đến 3 tháng mà không cải thiện bệnh thì bệnh nhân cần sử dụng các thuốc điều trị hạ mỡ máu như sau:

Các thuốc hạ mỡ máu nhóm statin:

Các thuốc này có vai trò ức chế enzym Hydroxymethylglutaryl CoA Reductase, do đó làm ức chế tổng hợp cholesterol toàn phần, kích thích tăng tổng hợp LDL-cholesterol. Từ đó, LDL-cholesterol được tăng lưu trữ tại gan, giảm LDL-cholesterol máu, VLDL, cholesterol toàn phần, triglycerid và tăng HDL-cholesterol. Không những thế các thuốc nhóm statin còn làm giảm viêm nội mạc mạch máu, làm thoái lui mảng xơ vữa, tăng tổng hợp nitric oxide ở tế bào nội mạc.

Trong đó, một số thuốc nhóm statin thường dùng điều trị rối loạn lipid máu do tăng LDL-cholesterol, cholesterol toàn phần là:

  • AtorvastatinSimvastatin mỗi ngày dùng 1 lần từ 10 đến 20 mg, tối đã một ngày không dùng nhiều hơn 80mg.
  • Rosuvastatin được dùng với liều ban đầu là 10-20 mg/ngày, sau đó duy trì với liều 5 đến 40mg/ngày, mỗi ngày uống 1 lần.
  • Lovastatin, Fluvastatin, Pravastatin mỗi ngày uống 1 lần với liều từ 20 đến 40 mg, liều uống trong 1 ngày không được vượt quá 80mg.

Khi sử dụng các thuốc nhóm statin người bệnh có thể gặp tác dụng không mong muốn như tăng men gan, tăng men cơ nếu uống với liều cao. Do đó cực kì cần thận khi sử dụng cho người bệnh gan, suy giảm chức năng gan.

Thuốc hạ mỡ máu nhóm fibrate:

Các thuốc nhóm fibrate làm giảm triglycerid do kích thích PPAR-α, tăng oxy hóa acid béo và tổng hợp ipoprotein lipase. Từ đó tăng thanh thải các lipoprotein giàu triglycerid và VLDL. Đồng thời, các fibrat cũng làm tăng các HDL-cholesterol.

Các fibrate được dùng cho người bệnh tăng triglycerid với liều như sau:

  • Gemfibrozil thường được dùng với liều mỗi ngày 600mg.
  • Clofibrat được dùng với liều mỗi ngày là 1000 mg.
  • Fenofibrat mỗi ngày uống với liều 145 mg.

Khi sử dụng các fibrate người bệnh có thể bị rối loạn tiêu hóa như đầy hơi, trướng bụng, buồn nôn. Không những thể chức năng gan còn có thể bị giảm nhẹ, men gan tăng lên, sỏi mật, tăng men cơ. Các phản ứng này thường xảy ra với liều cao, người già, người đã suy giảm chức năng gan, thận trước đó. Nếu sử dụng kèm với các thuốc chống đông, đặc biệt là vitamin K có thể làm tăng tác dụng của các thuốc này. Không được sử dụng các thuốc này cho phụ nữ mang thai và cho con bú và những người có bệnh lý gan, thận.

Thuốc hạ mỡ máu nhóm acid nicotinic (Niacin, vitamin PP):

Thuốc nhóm acid nicotinic làm giảm triglycerid do ức chế phân hủy các tổ chức mỡ và giảm tổng hợp triglyceird, acid béo và quá trình ester hóa chúng tại gan. Kết quả của quá trình trên các acid nicotinic làm giảm VLDL, LDL-cholesterol và tăng HDL-cholesterol.

Trên thị trường có các chế phẩm Niacor, Niaspan, Slo-niacin với các hàm lượng 100mg, 250mg và 500mg, dùng cho người bị tăng VLDL, LDL-cholesteron, TG như sau:

  • Các thuốc niacin giải phóng nhanh, ban đầu mỗi ngày uống 1 lần sau ăn tối 250mg, cứ sau 4 đến 7 ngày có thể tăng liều lên đến 1,5g - 2g. Mỗi ngày không được dùng quá 6gam chia làm 2 đến 3 lần.
  • Các thuốc niacin giải phóng chậm, 4 tuần đầu dùng mỗi ngày 500mg, 3 tuần tiếp theo uống liều 1000g. Thuốc này được uống khi đi ngủ, nếu sau tuần 8 hiệu quả không mong muốn có thể tăng liều dần đến tối đa 2000g. 

Sử dụng các niacin liều cao người bệnh có thể bị đỏ phừng mặt, ngứa, rối loạn tiêu hóa như đầy hơi, trướng bụng. Đồng thời chức năng gan, mật cũng có thể giảm sút và tăng kháng insulin.

Điều trị rối loạn lipid máu bằng thuốc.

Điều trị rối loạn lipid máu bằng thuốc.

Thuốc hạ mỡ máu nhóm resin:

Các thuốc nhóm resin có tác dụng tăng tổng hợp acid mật từ cholesterol và thúc đẩy bài tiết acid mật, làm giảm cholesterol ở gan giúp hạ mỡ máu. Tuy nhiên, khi sử dụng các thuốc này, người bệnh có thể bị rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, táo bón, đầy hơi.

  • Cholestyramine được sử dụng với liều ban đầu là 4g, mỗi ngày từ 1 đến 2 lần, sau đó duy trì với liều 8g chia làm 2 lần. Liều dùng tối đa mỗi ngày của cholestyramine là 24g.[1]
  • Colestipol được dùng với liều ban đầu là 2g, uống 1 lần hoặc chia làm 2 lần. Liều duy trì từ 2 đến 16g mỗi ngày 1 đến 2 lần.[2]
  • Colesevelam được sử dụng với liều mỗi ngày uống 3,75 gam, có thể uống 1 lần hoặc chia làm 2 lần.

Thuốc hạ mỡ máu Ezetimibe:

Ezetimibe ức chế sự hấp thụ cholesterol ở ruột non thông qua chất vận chuyển sterol. Điều này dẫn đến việc giảm lượng cholesterol cung cấp cho gan, giảm lượng cholesterol dự trữ trong gan và tăng độ thanh thải cholesterol trong máu. Từ đó làm giảm cholesterol toàn phần, LDL-cholesterol, ApoB và triglyceride trong khi đó tăng HDL-cholesterol. Một số ít tường hợp bệnh nhân khi sử dụng ezetimibe có thể bị tăng men gan.

Các thuốc có thành phần tác dụng chính là ezetimibe được dùng với liều mỗi ngày 1 lần 10mg.

Thuốc có chứa acid béo không bão hóa Omega 3:

Omega-3 làm giảm sản xuất ở gan các lipoprotein mật độ rất thấp và giàu chất béo trung tính. Các cơ chế tế bào có thể bao gồm ức chế acyl CoA, tăng oxy hóa ty lạp thể và peroxisomal beta, và giảm tổng hợp triglyceride ở gan. Được sử dụng cho các trường hợp bệnh nhân bị tăng triglycerid với liều 4g mỗi ngày, uống 1 lần hoặc 2 lần.[3]

Copy ghi nguồn: Trung tâm thuốc.

Link bài viết: https://trungtamthuoc.com/n/roi-loan-chuyen-hoa-lipid-mau-n181.html

Tài liệu tham khảo:

[1]. Cholestyramine: https://www.drugs.com/dosage/cholestyramine.html

[2]. Colestipol: https://www.drugs.com/dosage/colestipol.html

[3]. Omega-3: https://www.drugs.com/dosage/omega-3-polyunsaturated-fatty-acids.html


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......