0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA BỆNH LOÃNG XƯƠNG Ở TRẺ EM

Lượt xem: 1753Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/loang-xuong-o-tre-em 14/07/2020 11:40:50 SA
TrungTamThuoc

Bé bị loãng xương ở tuổi vị thành niên thường trải qua cơn đau dần dần, chủ yếu ở phần dưới cơ thể. Trong đó, trẻ thường đau ở hông, mắt cá chân, đầu gối, bàn chân với biểu hiện khó chịu khi đi bộ. Vậy loãng xương ở trẻ em có triệu chứng và điều trị thế nào?

1. Bệnh loãng xương là gì?

Chứng loãng xương là một rối loạn về xương được đặc trưng bởi sự suy giảm khối lượng xương và cấu trúc xương bị rối loạn, tổn thương dẫn đến nguy cơ gãy xương tăng lên. Theo hiệp hội quốc tế về đo mật độ xương lâm sàng ISCD thì, loãng xương ở trẻ em được xác định nếu có một trong các triệu chứng sau:

  • Trẻ bị gãy 1 xương dài ở chân.

  • Gãy trên 2 xương dài ở tay.

  • Đốt sống của trẻ có hiện tượng lún xẹp.

  • Chỉ số z-score của tỷ trọng khoáng xương (BMD) của trẻ có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng -2 SD căn cứ vào tuổi, giới tính và kích thước cơ thể.

Bệnh loãng xương ở trẻ em do suy giảm khối lượng xương.

Bệnh loãng xương ở trẻ em do suy giảm khối lượng xương.

2. Các nguyên nhân gây loãng xương ở trẻ nhỏ

Khối lượng xương và kết quả cuối cùng của khối xương đỉnh trưởng thành theo, chủ yếu là do di truyền.

Đồng thời, nếu trẻ ăn uống đầy đủ và hấp thu canxi, phốt pho và vitamin D có vai trò quan trọng trong việc tích lũy xương bình thường.

Trẻ em có nguy cơ bị thiếu canxi nhiều hơn, đặc biệt là các bé gái vị thành niên.

Bổ sung canxi trong chế độ ăn uống cho trẻ trước tuổi trưởng thành có thể là một yếu tố quan trọng trong việc tối ưu hóa khối lượng xương đỉnh. Tuy nhiên, khi ngừng bổ sung canxi vào chế độ ăn uống, thì sự gia tăng khối lượng xương không được duy trì.

Các yếu tố ảnh hưởng xấu đến khoáng hóa xương và độ cứng của xương, và dẫn đến chứng loãng xương ở trẻ em. Loãng xương nguyên phát xảy ra do khiếm khuyết xương nội tại có nguồn gốc di truyền hoặc vô căn. Thoái hóa xương (OI) là tình trạng phổ biến nhất trong các bệnh di truyền.

Bệnh loãng xương thứ phát bắt nguồn từ các bệnh hệ thống mãn tính ở trẻ em do ảnh hưởng của quá trình bệnh lý lên xương hoặc phương pháp điều trị của bệnh. Nguyên nhân gây loãng xương thứ phát bao gồm bệnh bạch cầu, chứng viêm, liệu pháp glucocorticoid, suy sinh dục và suy dinh dưỡng.

Các bệnh lý thường gặp nhất ảnh hưởng đến khối lượng xương như sau:

  • Bệnh lý di truyền gồm có bệnh xương thủy tinh, loãng xương vị thành niên vô căn, hội chứng Turner.
  • Các bệnh mạn tính như xơ nang, rối loạn mô liên kết trong lupus, viêm khớp, viêm da cơ vị thành niên, bệnh viêm ruột, bệnh celiac, suy thận mạn tính...
  • Trẻ mắc chứng rối loạn ăn uống như chán ăn tâm thần, chán ăn do rối loạn khác…
  • Bệnh rối loạn nội tiết gây loãng xương như hội chứng Cushing, bệnh cường giáp, thiếu hormone tăng trưởng, tiểu đường.
  • Do dùng một thuốc gây tác dụng phụ loãng xương như glucocorticoids, thuốc chống co giật, hóa trị, thuốc ức chế bơm proton, DMPA...
  • Loãng xương vị thành niên vô căn (IJO) là một dạng loãng xương nguyên phát hiếm gặp khác. Bệnh thường xuất hiện trước tuổi dậy thì và tự nhiên hồi phục sau tuổi dậy thì. Đặc điểm đặc trưng của nó là đau xương, đi lại khó khăn và gãy xương siêu hình và đốt sống.

Nguyên nhân gây loãng xương ở trẻ là gì?

Nguyên nhân gây loãng xương ở trẻ là gì?

3. Biểu hiện của loãng xương ở trẻ em

Bệnh nhân có mật độ khoáng xương thấp so với tuổi có thể không có triệu chứng hoặc có thể bị đau xương.

Nhiều trẻ sẽ bị gãy xương hoặc khi nghiên cứu hình ảnh chụp xương có thể thấy tình trạng khử khoáng hoặc không tích lũy xương bình thường.

Bé bị loãng xương ở tuổi vị thành niên thường trải qua cơn đau dần dần, chủ yếu ở phần dưới cơ thể. Trong đó, trẻ thường đau ở hông, mắt cá chân, đầu gối, bàn chân với biểu hiện khó chịu khi đi bộ.

Đặc biệt, nếu không được điều trị kịp thời trẻ có thể bị gãy xương.  Gãy xương là phổ biến ở thanh niên khỏe mạnh. Đến năm 16 tuổi, gần một nửa bé trai và một phần ba bé gái đã bị gãy xương. Trong nhi khoa, gãy xương hông, xương đùi và đốt sống là rất hiếm và gãy xương thường xảy ra sau chấn thương liên quan.

Trẻ loãng xương OI, có biểu hiện các mức độ gãy xương khác nhau, sclerae màu xanh, sự không hoàn hảo của ngà răng, sự lỏng lẻo dây chằng và khiếm thính.

Để chẩn đoán loãng xương ở trẻ nhỏ, ngoài thăm khám lâm sáng cần phải làm một số xét nghiệm.

Cần xác định chiều cao, cân nặng, tỉ số khối cơ thể BMI của trẻ nghi ngờ loãng xương.

Chụp DEXA ở cổ xương đùi, xương sống thắt lưng L1 – L4 và toàn bộ cơ thể cơ thể trẻ. Đồng thời xét nghiệm Ca, P, vitamin D...

4. Điều trị loãng xương ở trẻ nhỏ

4.1 Nguyên tắc điều trị loãng xương trẻ em

Trong điều trị loãng xương ở trẻ nhỏ ta cần phải đảm bảo:

Trẻ có một chế độ tập luyện thể dục - thể thao và cung cấp chất dinh dưỡng phù hợp theo tình trạng và lứa tuổi.

Đồng thời căn cứ, vào tình trạng thiếu canxi và vitamin D ở trẻ mà phải bổ sung thêm vào cơ thể trẻ sao cho phù hợp.

Sau khi xác định được nguyên nhân gây loãng xương ở trẻ nhỏ là gì, ta tiến hành điều trị theo nguyên nhân thích hợp.

Đồng thời, ta cần ngăn ngừa trẻ bị hủy xương bằng thuốc chứa bisphosphonate.

Cung cấp canxi vào bữa ăn cho trẻ loãng xương.

Cung cấp canxi vào bữa ăn cho trẻ loãng xương.

4.2 Điều trị cụ thể loãng xương ở trẻ em

Nếu trẻ có BMD thấp hoặc hàm lượng khoáng xương và độ giòn của xương thì xem xét điều trị bằng HA.

Canxi và vitamin D là những chất dinh dưỡng quan trọng nhất giúp ngăn ngừa loãng xương. Do đó cần có một chế độ ăn giàu các sản phẩm sữa hay thực phẩm cung cấp canxi và vitamin D cần thiết.

Các thuốc điều trị bao gồm các chất chống ăn mòn, ức chế tái hấp thu xương, ngăn ngừa mất xương do giảm khối lượng và bổ sung canxi và vitamin D. Thuốc ức chế tái hấp thu xương là các chất bisphosphonates như alendronate, risedronate, pamidronate, zoledronic acid...

Bổ sung calcium nguyên liều khuyến cáo dành như sau:

  • Các bé dưới 6 tháng mỗi ngày uống 210mg.

  • Các bé từ 6 tháng đến 12 tháng tuổi mỗi ngày uống 270 mg.

  • Các bé từ 1 đến 3 tuổi mỗi ngày uống 500mg.

  • Các bé từ 4 đến 8 tuổi mỗi ngày uống 800mg.

  • Các bé từ 9 đến 15 tuổi mỗi ngày uống 1300mg.

Còn với Vitamin D2 ta bổ sung cho trẻ dùng với liều cơ bản mỗi ngày là 400UI.

Các thuốc có thành phần chính là bisphosphonate như Pamidronate, Zoledronic acid cũng được dùng cho trẻ như sau:

  • Các thuốc này dùng trong trường hợp làm giảm nguy cơ gãy xương và làm giảm đau ở những trẻ bị loãng xương vì có nguy cơ tạo xương bất toàn.

  • Mặc dù ít khi gặp phải nhưng khi sử dụng các thuốc này có thể gây ra cho trẻ một số tacsd dụng không mong muốn như: yếu cơ, đau xương, rối loạn tiêu hóa, hạ canxi, và magie máu... hạ phosphore và hạ magie máu.

  •  Zoledronic acid (Zometa) được dùng cho các bé bị loãng xương trong bệnh thoái hóa xương do tạo xương bất toàn. Thuốc được dùng cho các bé trên 2 tuổi là 0,05 mg/kg, truyền tĩnh mạch trong vòng 50 phút, 6 tháng chỉ cho bé dùng 1 lần. Và lưu ý không được cho trẻ dùng quá 5mg mỗi lần.

Cho trẻ tham gia hoạt động thể lực để xương chắc khỏe hơn.

Cho trẻ tham gia hoạt động thể lực để xương chắc khỏe hơn.

5. Phòng ngừa loãng xương ở trẻ em

Để phòng ngừa bệnh loãng xương cho bé, cha mẹ phải ung cấp đầy đủ calcium và vitamin D cho trẻ trong bữa ăn hàng ngày. Các thực phẩm nên dùng cho bé như sữa và các chế phẩm từ sữa, cá, tôm, cua...

Tăng cường cho bé hoạt động thể lực để tránh béo phì, tích lũy mỡ quá nhiều và làm giảm khối lượng xương gây loãng xương.

Các mẹ mang thai cần bổ sung đầy đủ dưỡng chất, canxi và vitamin cho cả mẹ và bào thai.

Hy vọng bài viết này giúp các bạn phát hiện sớm trẻ bị loãng xương và điều trị cho phù hợp.

[1] Loãng xương ở trẻ em:

https://emedicine.medscape.com/article/985221-overview


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......