0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Herpes sinh dục: Triệu chứng, chẩn đoán và điều trị

Lượt xem: 1935 Ngày đăng Ngày cập nhật
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/herpes-sinh-duc-nhung-dieu-can-biet
TrungTamThuoc

1 Bệnh Herpes sinh dục là gì?

Herpes sinh dục

Bệnh Herpes sinh dục (còn gọi là bệnh mụn giộp sinh dục) là một bệnh lây truyền qua đường tình dục do herpes simplex gây nên.

2 Dịch tễ học

Tỉ lệ lưu hành HSV phụ thuộc vào từng địa phương và biểu hiện lâm sàng của quần thể nghiên cứu cũng như các kỹ thuật xét nghiệm sử dụng để chẩn đoán bệnh. Nghiên cứu dịch tễ học huyết thanh chỉ ra nhiều người có huyết thanh dương tính nhưng không có biểu hiện lâm sàng.

HSV được phân lập chiếm 0,3 - 5,4% nam và 1,6 - 10% nữ đến khám tại các phòng khám STDs. Tại những phòng khám đa khoa thì HSV được phân lập chiếm 0,25 - 5% số bệnh nhân.

Ở Anh, vào năm 1994, tỷ lệ người bị nhiễm HSV tăng gấp 6 lần so với năm 1972. Ở Mỹ, từ 16.986 vào năm 1970 tăng lên 160.000/100.000 người khám bệnhnăm 1995. Tỉ lệ bệnh tăng cao trong những năm gần đây, có khoảng 500.000 trường hợp mỗi năm. Trong đó HSV2 chiếm 20-30% những bệnh nhân tuổi 15-29 tuổi và 35-60% những bệnh nhân tuổi 60 bằng phương pháp chẩn đoán huyết thanh học. Tại Washington, HSV tăng ở trẻ sơ sinh từ 2,6/100.000 trẻ sinh năm 1966 đến 11,4 /100.000 vào năm 1995. ỞMỹ, ước tính có khoảng 1/2000 -5000 trẻ sinh nhiễm HSV trong những năm gần đây.

Nguy cơ nhiễm HSV không có liên quan với sự khác nhau về chủng tộc, nhưng phụ thuộc vào tình hình kinh tế xã hội, văn hoá, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, hành vi tình dục và thực trạng nghiện ma tuý của từng địa phương.

Dịch tễ học cho thấy HSV tăng phổ biến ở khắp các quốc gia trên thế giới, là nguyên nhân gây ra các loét sinh dục tái phát cao trong những năm gần đây.

Căn nguyên: Bệnh do HSV1 hoặc HSV2 gây ra, bệnh mãn tính, tái phát. Bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp qua quan hệ tình dục với người nhiễm virus có triệu chứng hoặc không có triệu chứng, thường do tiếp xúc da - da hoặc niêm mạc - niêm mạc. Phần lớn bệnh nhân bị loét sinh dục là Herpes sinh dục, giang mai hoặc hạ cam. Bệnh cũng có nguy cơ tăng cùng với nhiễm HIV.

Herpes simplex virus (HSV) type 2 > type 1. Hiện nay ở Hoa Kỳ 30% các ca Herpes sinh dục mới là do HSV- 1. HSV1 thường mắc phải do quan hệ miệng - sinh dục. HSV2 chủ yếu gây loét sinh dục chỉ một số ít không có triệu chứng.

Bệnh lây truyền qua con đường tiếp xúc gần gũi với người bị bệnh.

3 Triệu chứng lâm sàng

Có đến 50-70% bệnh nhân bị nhiễm HSV-2 nhưng không có các triệu chứng lâm sàng, hoặc các triệu chứng rất mơ hồ khiến người bệnh không nhận biết được.

3.1 Herpes tiên phát

Thời gian ủ bệnh: từ 2 đến 20 ngày, trung bình 6 ngày. Khoảng 50 - 70% trường hợp có hoặc không có triệu chứng toàn thân.

Triêu chứng toàn thân: mệt mỏi, sốt nhẹ, đau đầu, khó chịu, đau cơ, rộ lên trong vòng 3-4 ngày tiếp theo. Có thể có rối loạn tiểu tiện hay viêm màng não thoáng qua. Tuỳ thuộc vào vị trí: đau, ngứa, đi tiểu khó, tiết dịch niệu đạo và âm đạo là triệu chứng thường gặp.

Vào tuần thứ 2 và thứ 3 sau bị nhiễm bệnh, bệnh nhân xuất hiện hạch bẹn sưng đau. Đau sâu ở tiểu khung (hố chậu) kết hợp với hạch hố chậu. Một số trường hợp bị nhiễm herpes sinh dục có biểu hiện rầm rộ, phải nhập viên từ thời kỳ đầu của bệnh.

Thương tổn da:

  • Khởi phát có cảm giác khó chịu, ngứa rấm rứt ở vùng sắp mọc thương tổn, sau 4-8 giờ xuất hiện mụn nước thành chùm trên nền ban đỏ, ngay sau đó nổi thành cụm mụn nước.

Các cụm mụn nước trong herpes sinh dục

  • Sau khoảng 24 giờ, cụm mụn nước vỡ nhanh để lại vết chợt tròn, đau rát, có thể tạo thành loét, phủ vảy tiết, ẩm ướt. Vết loét có thể lành trong khoảng từ 2-4 tuần, thường không gây giảm sắc tố, không để lại sẹo.

Vị trí thương tổn:

  • Ở nữ: herpes thường xảy ra ở niêm mạc âm hộ, âm đạo. Cổ tử cung sưng đỏ, tiết dịch trong, có khi có mủ hoặc máu.

  • Ở nam giới thường gặp bao dương vật, rãnh quy đầu.

  • Bệnh kéo dài 2-3 tuần và tự ổn định sau 2 tuần.

  • Đầu tiên thấy một mảng đỏ.

3.2 Herpes tái phát

Herpes sinh dục tái phát: các tổn thương có biểu hiện hoàn toàn tương tự như tiên phát. Thông thường là một mảng đỏ có kích thước khoảng chừng 1-2cm, xung quanh có mụn nước. Khi vỡ, các mụn nước tạo thành các vết trợt, khỏi sau 1-2 tuần.

Biểu hiện của herpes sinh dục tái phát

Triệu chứng toàn thân: có thể bị viêm màng não do HSV-2, xuất hiện herpes sinh dục. Sau giai đoạn sơ nhiễm, HSV ẩn mình trong tế bào thần kinh của hạch cảm giác. Sau đó chúng tái hoạt tính gây tổn thương trở lại, thường ít thấy mụn nước, các vết trợt ít đau rát hơn giai đoạn tiên phát.

  • Đối với nam: herpes tiên phát thường xuất hiện ở bao quy đầu, quy đầu, thân dương vật, đùi, hông còn herpes tái phát thường chỉ gặp ở thân dương vật, quy đầu và hông. 

  • Đối với nữ: herpes tiên phát thường gặp ở các vị trí ở môi lớn, môi bé, đáy chậu, mặt trong đùi còn herpes tái phát lại thường găp ở môi lớn, môi bé và hông.

  • Herpes hậu môn và trực tràng: chủ yếu xảy ra ở hậu môn nam giới do quan hệ đồng giới.

Biểu hiện lâm sàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loại virus, khả năng cảm nhiễm trước đó, giới tính, tình trạng miễn dịch cơ thể hiện tại, tuổi, chủng tộc, vị trí phơi nhiễm…

4 Chẩn đoán

4.1 Chẩn đoán xác định

Hiện nay ở Việt Nam chưa có các xét nghiệm xác định, vì vậy chẩn đoán chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng: chùm mụn nước trên nền hồng ban hay tái phát.

4.2 Chẩn đoán phân biệt

- Loét sinh dục: với săng giang mai, hoặc săng hạ cam mềm, hoặc aphte sinh dục.

- viêm cổ tử cung nhầy-mủ: với C.trachomatis, lậu.

- Viêm trực tràng: với C.trachomatis, lậu, giang mai.

5 Điều trị

Nếu không bị bội nhiễm và không điều trị sẽ tự lành trong 7-10 ngày.

5.1 Tại chỗ

- Chống bội nhiễm: rửa Thuốc tím pha loãng 1/10.000, bôi dung dịch màu (milian, eosin).

- Thuốc kháng virus bôi tại chỗ như acyclovir, idoxuridine chỉ có tác dụng trong giai đoạn hồng ban.

- Chống chỉ định sử dụng corticoids.

5.2 Toàn thân

- Nâng sức đề kháng.

- Kháng sinh nếu có bội nhiễm.

- Thuốc chống siêu vi: tác dụng tương đối.

a. Điều trị cắt cơn:

Herpes sinh dục nguyên phát: chọn một trong các phác đồ sau:

- Acyclovir 400mg x 3lần/ngày x 1-10 ngày.

- Acyclovir 200mg x 5lần/ngày x 7-10 ngày.

- Famciclovir 250mg x 3 lần/ngày x 7-10 ngày.

- Valacyclovir 1g x 2 lần/ngày x 7-10 ngày.

 Herpes sinh dục tái phát: chọn một trong các phác đồ sau:

- Acyclovir 400mg x 3lần/ngày x 5 ngày.

- Acyclovir 200mg x 5lần/ngày x 5 ngày.

- Acyclovir 800mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.

- Famciclovir 125mg x 2 lần/ngày x 5 ngày.

- Valacyclovir 500mg x 2 lần/ngày x 3-5 ngày.

b. Điều trị ức chế: giảm tần suất cơn tái phát và sự lây lan virus không triệu chứng.

Chọn lựa khi:

- Ảnh hưởng đến chất lược cuộc sống.

- Xáo trộn tâm lý, tâm lý sinh dục, tâm lý xã hội.

- Cơn tái phát thường xuyên hay nặng:

  • Acyclovir 400mg x 2 lần/ngày.

  • Famciclovir 250mg x 2 lần/ngày.

  • Valacyclovir 500mg x 2 lần/ngày. (3 – 6 tháng, có thể kéo dài 1 năm).

5.3 Dự phòng bằng bao cao su

Dự phòng bằng bao cao su

- Giảm lây truyền trong giai đoạn bài tiết virus không triệu chứng.

- Vẫn có thể lây truyền nếu đang có thương tổn, vì vậy tránh sinh hoạt tình dục khi đang có thương tổn sinh dục.

Copy ghi nguồn: TrungTamThuoc.com

Link bài viết: Herpes sinh dục: nguyên nhân, chẩn đoán và điều trị

Tài liệu tham khảo

  1. PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ KHOA DA LIỄU; BỆNH VIỆN TRUNG TÂM AN GIANG – SỞ Y TẾ AN GIANG.

  2. “Herpes sinh dục”; BS. Huỳnh Văn Quang.

  3. “HERPES SIMPLEX”; BS CKI Trương Thị Tuyết Hoa Khoa Nhiễm – Bệnh viện Trưng Vương.


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......