0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Hạ đường huyết: cơ chế, triệu chứng và cách phòng tránh

Hạ đường huyết: cơ chế, triệu chứng và cách phòng tránh

, 7 phút đọc

, Cập nhật:
Xem:
2020

Trungtamthuoc.com - Hạ đường huyết nếu không được điều trị kịp thời có thể gây biến chứng lên hệ thần kinh trung ương như co giật, mất ý thức... Vậy làm sao để phòng ngừa tình trạng đường huyết máu?

1 Hạ đường huyết là gì?

Hạ đường huyết hay hạ Glucose máu là kết quả của sự mất cân bằng giữa quá trình cung cấp và tiêu thụ glucose trong máu, làm nồng độ glucose máu thấp hơn 3,9 mmol/l. Khi nồng độ glucose máu  hạ xuống khoảng 2,7-3,3 mmol/l thì người bệnh sẽ xuất hiện các triệu chứng như mệt lả, vã mồ hôi, đói... Khi đói nồng độ glucose trong huyết tương còn dưới 2,8 mmol/l thì người bệnh đã bị hạ đường huyết nặng.

Những yếu tố làm tăng nguy cơ hạ đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường

2 Cơ chế và nguyên nhân hạ đường huyết

2.1 Cơ chế hạ đường huyết

Cơ thể cần glucose để có đủ năng lượng. Sau khi ăn, máu sẽ hấp thụ glucose. Nếu ăn nhiều đường hơn nhu cầu của cơ thể, cơ và gan sẽ tích trữ thêm lượng đường đó. Khi lượng đường trong máu bắt đầu giảm, một loại hormone sẽ báo cho gan để giải phóng glucose.

Ở hầu hết mọi người, điều này làm tăng lượng đường trong máu. Nếu nó không xảy ra, bạn đã bị hạ đường huyết và lượng đường trong máu có thể xuống thấp đến một mức khá nguy hiểm. [1]

2.2 Nguyên nhân hạ đường huyết

2.2.1 Hạ đường huyết do tác dụng phụ của thuốc tiểu đường và thuốc tiêm Isulin

Tình trạng này phổ biến nhất ở những người mắc bệnh tiểu đường bị tác dụng phụ khi sử dụng Insulin hoặc một số loại thuốc tiểu đường. Trong một nghiên cứu toàn cầu về những người mắc bệnh tiểu đường sử dụng insulin, 4/5 người mắc bệnh tiểu đường loại 1 và gần một nửa số người bị bệnh tiểu đường loại 2 đã báo cáo tình trạng đường huyết thấp ít nhất một lần trong khoảng thời gian 4 tuần. [2] [3]

2.2.2 Hạ đường huyết lúc đói

Quá sản tế bào đảo nguyên phát là một nguyên nhân hiếm gặp gây hạ đường huyết lúc đói ở trẻ sơ sinh và cực kỳ hiếm gặp ở người lớn. Tình trạng này được đặc trưng bởi sự bắt đầu lan rộng của các tế bào tiết insulin từ biểu mô ống tụy và u nhỏ tuyến tụy của các tế bào này. Trẻ nhỏ thường bị hạ đường huyết lúc đói do  thiếu hụt men gan do di truyền hạn chế giải phóng glucose ở gan như: thiếu glucose-6-phosphatase, fructose-1,6-diphosphate, phosphorylase, pyruvate carboxylase, phosphorylase. Hạ đường huyết lúc đói do do các khiếm khuyết di truyền trong quá trình oxy hóa axit béo, gây ra tình trạng hạ đường huyết khi nhịn ăn hoặc tập thể dục. Điều này dẫn đến các mô hấp thu glucose cao bất thường của các mô. Cũng có một số trường hợp bệnh nhân sau khi phẫu thuật cắt dạ dày có u tuyến nhỏ ở tụy. [4]

Hạ đường huyết do tác dụng phụ của thuốc tiêm Isulin

2.2.3 Hạ đường huyết do thuốc

Bệnh nhân có thể bị hạ đường huyết do sử dụng một số thuốc như: Ethanol, Haloperidol, Pentamidine, Quinine, Salicylates, Sulfonamides, Phenylbutazone, Insulin, Bazylbutazone, Insulin... Những người tiểu đường typ2 khi dùng phối hợp Metformin - Sulfonylurea có nguy cơ hạ đường huyết nặng, bệnh tim mạch và tử vong hơn khi dùng Metformin, Dipeptidyl - ức chế peptidase-4. Tương tự, khi điều trị bằng Metformin và chất tiết insulin như Sulfonylurea, Glinide nguy cơ hạ đường huyết cao hơn so với Metformin và DPP4i khi bắt đầu dùng Insulin. Bệnh nhân bị hạ đường huyết do lạm dụng hoặc dùng không đúng cách Sulfonylurea và Insulin.

2.2.4 Hạ đường huyết do khối u tiết insulin

Hạ đường huyết cũng có thể được gây ra bởi các khối u tiết insulin ít, phổ biến nhất là khối u trung mô ác tính sau phúc mạc hoặc trung thất. Khối u tiết ra yếu tố tăng trưởng bất thường tương tự insulin như IGF-II, không liên kết với các protein liên kết trong huyết tương. Sự gia tăng IGF-II này gây hạ đường huyết thông qua IGF-I hoặc các thụ thể insulin. Hạ đường huyết được điều chỉnh khi khối u được loại bỏ hoàn toàn hoặc một phần và thường tái phát khi khối u tái phát.

2.2.5 Hạ đường huyết do thiếu hụt enzyme bẩm sinh

Trong đó các enzyme bẩm sinh bao gồm không dung nạp Fructose di truyền, galactosemia và nhạy cảm với leucine ở trẻ em. Trường hợp không dung nạp fructose di truyền và galactose, do thiếu hụt men gan bẩm sinh khiến cơ thể không chuyển hóa được chất này. Leucine gây ra phản ứng tiết insulin quá mức khi ăn và hạ đường huyết ngược ở bệnh nhân nhạy cảm với leucine.

2.2.6 Hạ đường huyết sau phẫu thuật

Bệnh nhân có thể bị hạ đường huyết sau phẫu thuật đường tiêu hóa trên như cắt dạ dày và làm hấp thu glucose nhanh chóng. Điều này có thể xảy ra trong vòng 1-3 giờ sau bữa ăn.

2.2.7 Hạ đường huyết do các nguyên nhân khác

Các nguyên nhân khác gây hạ đường huyết như: Hạ đường huyết tự miễn, suy tuyến yên, bệnh tim, gan và thận, suy thượng thận, hoạt động gắng sức, nhiễm khuẩn…

3 Các triệu chứng lâm sàng của hạ đường huyết

Các triệu chứng của hạ đường huyết đặc trưng theo từng mức độ nặng nhẹ của hạ đường huyết.

Hạ glucose máu có những triệu chứng như thế nào?

Ở những người bệnh bị hạ đường huyết nhẹ thường có biểu hiện trên hệ thần kinh tự chủ như vã mồ hôi, chân tay run lủn bủn và đói. Các triệu chứng này được khắc phục bằng cách cung cấp 10 đến 15 gam carbohydrat theo đường miệng, chỉ sau khoảng 10 đến 15 phút chúng sẽ mất đi.

Khi người bệnh bị hạ đường huyết trung bình, sẽ có biểu hiện của hệ thần kinh tự chủ và hệ thần kinh trung ương như đau đầu, thay đổi hành vi, mất chú ý, ngủ gà hay kích thích... Khi bệnh đã chuyển biến như vậy thì thời gian hồi phục sẽ lâu hơn. Người bệnh cần được điều trị kịp thời, tránh các biến chứng nguy hiểm và chuyển sang giai đoạn nặng.

Ở giai đoạn hạ đường huyết nặng, lượng glucose trong máu cực kỳ thấp. Bệnh nhân bắt đầu có hôn mê, không còn cảm giác hay xuất hiện các cơn co giật. Lúc này cần cấp cứu kịp thời bằng cách truyền glucose theo đường tĩnh mạch hoặc điều trị bằng glucagon.

Ở những người bệnh trị liệu tích cực có thể bị hạ glucose máu tiềm tàng hay chính là hạ glucose không có triệu chửng. Điều này, tái đi tái lại nhiều lần sẽ gây ra những hậu quả như:

  • Làm giảm sự hoạt động và nhạy cảm của hệ thống hormon ngăn chặn hạ đường máu.
  • Làm ngưỡng báo động về nguy cơ hạ đường huyết của người bệnh, để đến khi phát hiện ra thì bệnh nhân đã bị hạ đường huyết nặng và có thể gây ra biến chứng khác.

Những cơn hạ đường máu như này mà diễn ra lâu dài hay ngắn nhưng liên tục có thể gây phá hủy hệ thống thần kinh trung ương,  dặc biệt nguy hiểm với người trẻ. Một số người bệnh có thể gây ra cảm giác sợ hãi do hạ glucose máu, dẫn đến ăn quá nhiều, dần dần làm giảm tác dụng của insulin. Lúc này, người bệnh sẽ phải điều trị phối hợp với các liệu pháp làm ổn định tinh thần.​

4 Chẩn đoán hạ đường huyết như thế nào?

Để chẩn đoán bệnh nhân bị hạ đường huyết trước tiên dựa vào các triệu chứng lâm sàng như:

Người bệnh bị mệt đột ngột, thường hay đói cồn cào mà không rõ lý do dù chưa đến bữa ăn. Lúc này, người bệnh có thể bị đau đầu, chóng mặt, chân tay yếu, rã rời.

Nếu hạ đường huyết nặng dẫn đến da tái xanh, đổ mồ hôi, trống ngực hồi hộp, hoảng hốt, kích động hay loạn thần.

Không chỉ vậy, người bệnh còn có thể bị nhanh nhịp tim, tăng huyết áp, có thể xuất hiện những cơn đau thắt ngực, ngực có cảm giác nặng nề…

Thậm chí người bệnh có thể có biểu hiện hôn mê đột ngột khi đến giai đoạn nặng của hạ đường huyết. Triệu chứng này thường xuất hiện khi bệnh nhân bị hạ đường huyết với các triệu chứng trên mà không được điều trị kịp thời.

Ngoài ra, bệnh nhân có thể có thêm các biểu hiện tổn thương thần kinh khu trú, dấu hiệu Babinski ở cả 2 bên, giảm phản xạ gân xương. Nặng hơn có thế dẫn đến co giật toàn thân hay cục bộ và căng cứng cơ.

Song song, chúng ta cần phải làm các xét nghiệm đo đường huyết để chẩn đoán. Cần phải lấy xét nghiệm máu ở đầu ngón tay và xét nghiệm máu tĩnh mạch trước khi tiêm truyền glucose vào. Nếu chỉ số đường huyết dưới 3,9mmol/L thì được xác định là hạ đường huyết, bệnh nhân sẽ có triệu chứng nặng khi chỉ số này dưới 2,8mmol/L.

Cần phân biệt hôn mê hạ đường huyết với một số trường hợp bệnh lý gây hôn mê khác như: Sau chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, bệnh não gan, Ure máu cao, ngộ độc thuốc hay nhiễm trùng thần kinh…

5 Điều trị hạ đường huyết bằng cách nào?

Hạ đường huyết là một tình trạng cần cấp cứu kịp thời, ảnh hưởng đến tính mạng và biến chứng sau này của bệnh nhân.

Nếu người bệnh không bị rối loạn ý thức, rối loạn tiêu hóa thì thường chỉ cần cung cấp glucose vào cơ thể qua bữa ăn. Có thể cấp đường nhanh cho bệnh nhân như sau:

  • Cho bệnh nhân ăn 3 muỗng đường nhỏ, mỗi muỗng tương đương 5 gam đường.
  • Cho uống 100ml nước ngọt như coca tương ứng  110 gam đường trong 1 lon hoặc 100 đến 150ml nước hoa quả. Mỗi lít nước hoa quả chứa 100 gam đường.

Nếu người bệnh hạ đường huyết đã có biểu hiện rối loạn ý thức và rối loạn tiêu hóa thì cần cung cấp glucose bằng cách sau:

  • Khi hạ đường huyết nặng, tiêm tĩnh mạch chậm 50ml dung dịch glucose 20% hoặc 30%, nếu bệnh nhân chưa tỉnh có thể tiêm lặp lại liều như vậy. Sau đó chuyển sang truyền glucose 5% hoặc 10% để duy trì hàm lượng đường máu đạt trên 5,5mmol/l.
  • Tiêm bắp hoặc tiêm dưới da 1 ống glucagon 1mg khi người bệnh bị vật vã không thể thiết lập đường truyền tĩnh mạch được.
  • Khi người bệnh đã tỉnh lại thì duy trì cung cấp glucose qua đường uống. Đồng thời, phải kiểm tra đường huyết liên tục, cứ cách 4 giờ 1 lần để tránh vượt quá 11 mmol/1.

Sau đó, chúng ta cần điều trị nguyên nhân gây hạ đường huyết cho người bệnh:

Nếu bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường và đang điều trị bằng Insulin thì cần hướng dẫn lại bệnh nhân cách điều trị và phòng tránh hạ đường huyết.

Nếu người bệnh dùng Sulfonylurea gây biến chứng hạ đường huyết thì tình trạng có thể nặng và kéo dài với người già, suy giảm chức năng gan, thận. Lúc này cần ngừng thuốc và truyền tĩnh mạch 2000ml glucose 10% trong 24 giờ và theo dõi đường huyết.

Điều trị cho người bệnh hạ đường huyết như thế nào?

Nếu bệnh nhân bị u tiết insulin thì có thể làm ngừng tiết insulin bằng thuốc Diazoxide hoặc Sandostatin.

  • Diazoxide được dùng với liều uống 1 ngày là 300mg.
  • Còn Sandostatin được dùng để tiêm dưới da dùng dịch Sandostatin mỗi ngày từ 1000 đến 2000 µg.
Phòng ngừa hạ đường huyết như thế nào?

6 Phòng ngừa tình trạng hạ đường huyết

Để phòng chống cơn hạ đường huyết có hiệu quả, việc cần làm là tìm hiểu những nguyên nhân có thể gây ra hạ glucose máu.

Tình trạng hạ đường huyết có thể xảy ra ở những người sử dụng glucose quá liều, hay khoảng cách giữ các lần điều trị bằng insulin không phù hợp. Do đo, bệnh nhân cần được giáo dục lại cách sử dụng insulin để tránh những biến chứng không mong muốn xảy ra.

Hạ đường huyết ở những người bệnh ăn ít, không cung cấp đủ lượng carbohydrat cho cơ thể so với hàm lượng insulin. Lúc này người bệnh cần điều chỉnh lượng thức ăn, thời gian ăn của mình sao cho phù hợp, không để cơ thể quá đói.

Hạ đường huyết cũng có thể do tập luyện quá sức và không bổ sung năng lượng kịp thời, khi đó cần phải điều chỉnh lại chế độ tập luyện của mình. Do đó, người bệnh phải cung cấp carbohydrate kịp thời, nhanh chóng. Nếu đang luyện tập mà thấy biểu hiện của hạ glucose máu phải ngừng ngay. Hoặc người bệnh có thể có bữa ăn phụ trước khi tập để tránh hạ đường huyết sau đó.

Ngủ dậy muộn hơn bình thường cũng là nguyên nhân tiềm tàng cho người bệnh, vì nó làm mất cân bằng giữa thời gian tiêm insulin và việc tiếp nhận thức ăn của cơ thể. Do đó, chế độ điều trị phù hợp phải bao gồm chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, tiêm thuốc, luyện tập phải phù hợp với thể trạng của người bệnh.

Để đảm bảo tránh xảy ra các biến chứng, người bệnh thường được tiêm insulin bán chậm vào buổi tối. Liều tiêm được dự tính để cho người bệnh có thể ngủ thêm 30 đến 60 phút, tuy nhiên nếu lâu hơn thì phải cung cấp thêm năng lượng hoặc thay đổi liều tiêm.

Bệnh nhân tiểu đường bị hạ đường huyết cần được giáo dục về dinh dưỡng, kiểm tra nồng độ glucose tại nhà, và các triệu chứng sớm của hạ đường huyết.

Người bệnh nên ăn các bữa ăn nhỏ, nhiều lần với lượng carbohydrate chính xác để giúp giữ mức đường huyết không quá thấp. Nếu người bệnh sử dụng đồ uống chứa cồn thì phải ăn kèm với thức ăn, không uống lúc bụng đói.

Trên đây là các thông tin về triệu chứng và phòng ngừa bệnh hạ đường huyết, để điều trị bệnh hạ đường huyết các bạn hãy tìm hiểu qua thông tin ở bài viết này.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Tác giả: Chuyên gia của Medlineplus, Hypoglycemia, Medlineplus. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2021
  2. ^ Tác giả: Chuyên gia của NIH, Low Blood Glucose (Hypoglycemia), NIH. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2021
  3. ^ Tác giả: Khunti K, Alsifri S, Aronson R, et al. Rates and predictors of hypoglycaemia in 27,585 people from 24 countries with insulin-treated type 1 and type 2 diabetes: the global HAT study, NCBI. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2021
  4. ^ Tác giả: Mary Jo DiLonardo, Hypoglycemia (Low Blood Sugar), WebMD. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2021
Ngày đăng

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
  • 0 Thích

    Điều trị bệnh hạ đường huyết như nào?


    Thích (0) Trả lời
(Quy định duyệt bình luận)
Hạ đường huyết: cơ chế, triệu chứng và cách phòng tránh 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
  • Hạ đường huyết: cơ chế, triệu chứng và cách phòng tránh
    TV
    Điểm đánh giá: 5/5

    Cảm ơn dược sĩ nhà thuốc đã tư vấn nhiệt tình cho mình.

    Trả lời Cảm ơn (0)
logo
Nhà thuốc uy tín số 1 Nhà thuốc
uy tín số 1
Cam kết 100% chính hãng Cam kết 100%
chính hãng
Dược sĩ giỏi tư vấn miễn phí Dược sĩ giỏi tư
vấn miễn phí
Giao hàng toàn quốc Giao hàng
toàn quốc
Gửi
vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633