0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Dược lý về histamin và nhóm thuốc kháng histamin

, 13 phút đọc

, Cập nhật lần cuối:
Lượt xem:
11003

Thuốc kháng Histamine là nhóm thuốc thường được sử dụng để điều trị các tình trạng gây ra bởi sự phóng thích quá mức Histamine - chất hóa học được tạo ra bởi hệ thống miễn dịch. Thuốc kháng Histamine được sử dụng phổ biến trong các trường hợp có phản ứng dị ứng với các chất gây dị ứng như phấn hoa, thực phẩm, thời tiết,... Bên cạnh đó là các một loạt các bệnh khác đau dạ dày, cảm lạnh, say xe,...

1 Histamin

1.1 Nguồn gốc histamin

Histamin có nghĩa là amin ở mô (histos), chúng có mặt ở khắp các mô trong cơ thể loài có vú.

1.2 Công thức hoá học

Phản ứng tạo thành Histamine

1.3 Dược động học

1.3.1 Hấp thu

Khi uống Histamin hầu như không được hấp thu vì bị phá huỷ ở đường tiêu hoá và chuyển hoá qua gan.

Khi tiêm thuốc được hấp thu rất nhanh vì gây giãn mạch và tăng tính thấm nơi tiêm.

Tiêm trong da gây ra phản ứng đặc trưng do gây phù nề và tăng tính thấm, đồng thời Histamin cũng là tác nhân gây đau.

1.3.2 Phân bố

Người ta tìm thấy histamin ở khắp các mô trong cơ thể nhưng sự phân bố của chúng không đồng đều (từ dưới l microgam/g đến 100microgam/g – H1). Histamin phân bố chủ yếu ở các mô phổi, ruột, da, đó là nơi mà lượng tế bào mast có tương đối nhiều. Một số mô không chứa các tế bào mast nhưng vẫn có mặt histamin như: não, biểu bì.

Nồng độ của histamin trong máu và trong các dịch khác của cơ thể nói chung rất thấp, nhưng ở dịch não tuỷ của người lượng histamin có cao hơn. Nồng độ của histamin trong máu vào khoảng 50- 60 microgam/ lít.

1.3.3 Chuyển hoá và thải trừ

Trong cơ thể sau khi được hình thành, histamin hoặc là được dự trữ hoặc mau chóng bị mất tác dụng và đào thải qua nước tiểu. Histamin được dự trữ nhiều nhất trong các tế bào mast ở các mô và trong các hạt bài tiết của tế bào ưa base. Ở trong các hạt này, histamin tồn tại dưới dạng phức hợp histamin - heparin bằng lực hút tĩnh điện. Từ đây histamin sẽ được giải phóng khi cần thiết qua một vài cơ chế khác nhau.

Có 2 quá trình chuyển hoá quan trọng nhất của histamin trong cơ thể:

  • Histamin chịu sự tác động của enzym Histamin - N - Methyl - transferase và chuyển thành N - Methyl - Histamin sau đó N - Methyl - Histamin chịu tác dụng của MAO tạo thành N - Methyl - Imidazol acctic acid. Phản ứng này có thể ngăn chặn bằng các yếu tố ức chế enzym MAO.
  • Histamin chịu tác dụng của enzym diamin oxidase (DAO) tạo thành imidazol acetic acid.

Các sản phẩm chuyển hoá của histamin, có ít hoặc không có hoạt tính cùng với một phần histamin tự do được bài tiết vào nước tiểu và thải trừ ra ngoài.

1.4 Tác dụng và cơ chế tác dụng

Histamin là một amin có hoạt tính sinh học mạnh giữ nhiệm vụ chính trong những phản ứng dị ứng và phản ứng quá mẫn. Ngoài ra, histamin còn có tác dụng điều hoà sự bài tiết dịch vị và có tác dụng như là một chất dẫn truyền thần kinh.

Histamine phát huy tác dụng thông qua Receptor của histamin. Có 3 loại receptor histamin là H1, H2, và H3. H1 và H2 là những receptor hậu synap, trong khi H3 là receptor tiền synap, có nhiều ở não.

1.4.1 Trên thần kinh trung ương

Histamin là một chất có vai trò quan trọng trong các phản ứng đau và ngứa do kích thích vào tận cùng của dây thần kinh cảm giác. Tác dụng này thông qua receptor H1. Receptor H3 tiền synap đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa giải phóng các chất truyền đạt thần kinh ở thần kinh trung ương. Các chất chủ vận H3 làm giảm giải phóng histamin, norepinephrin, dopamin, 5-HT và trong một số nghiên cứu còn thấy làm giảm giải phóng acetylcholin ở một số vùng trên não. Các receptor này có thể có vai trò tương tự ở thần kinh ngoại vi.

1.4.2 Trên hệ tim mạch

Tác dụng của histamin trên tim mạch thông qua cả receptor H1 và H2 khi dùng liều cao, bởi vì thực tế cho thấy sự kết hợp các thuốc phong bế cả receptor H1 và H2 có hiệu quả ngăn ngừa tác dụng của histamin hơn là thuốc phong bế một receptor đơn thuần. Tuy nhiên, trên người, tác dụng của histamin ở liều thấp trên tim mạch thường bị đối kháng bởi thuốc kháng receptor H1 đơn thuần.

  • Giãn mạch

Với mao mạch, histamin gây giãn mạch mạnh qua cả 2 loại receptor H1 & receptor H2, tác dụng qua receptor H1 nhanh và ngắn, qua receptor H2 xuất hiện chậm nhưng kéo dài.

  • Tăng tính thấm mao mạch

Đây là tác dụng cổ điển của histamin, qua receptor H1 của hệ vi tuần hoàn đặc biệt là tiểu tĩnh mạch sau mao mạch.

Histamin gây tăng tính thấm của các mô, làm thoát huyết tương ra khỏi thành mao mạch gây phù nề, ngứa, phát ban, viêm .

Cơ chế: histamin làm co các tế bào nội mô, làm cho khoảng gian bào tăng lên, để lộ ra các màng đáy khiến protein huyết tương và các tế bào máu (chủ yếu là bạch cầu) đi qua một cách dễ dàng.

  • Trên tim

Histamin có tác dụng trực tiếp trên tim, làm tăng lực co bóp của cả cơ nhĩ và cơ thất, làm tăng nhịp tim do nó thúc đẩy sự khử cực thì tâm trương. Histamin cũng có tác dụng làm chậm sự dẫn truyền nhĩ thất.

  • Trên huyết áp

Histamin gây giãn mạch nên gây hạ huyết áp. Mức độ hạ huyết áp phụ thuộc vào liều dùng. Do hạ huyết áp, cơ thể có phản xạ tăng áp nên tim đập nhanh, thượng thận tăng tiết catecholamin. Sốc do histamin: Khi histamin được đưa vào cơ thể một lượng lớn hoặc được giải phóng trong các phản ứng quá mẫn (ví dụ do bị dị ứng penicillin) thì sẽ gây ra hạ huyết áp trầm trọng do các mạch máu nhỏ bị giãn, tính thấm mao mạch tăng, mất protein huyết tương, thoát dịch nội bào, giảm thể tích máu dẫn đến tình trạng choáng.

Giải phóng Histamine gây ra các phản ứng dị ứng

1.4.3 Trên cơ trơn

Histamin chủ yếu gây co cơ trơn rất mạnh do kích thích receptor H1 trên thành cơ trơn.

  • Cơ trơn đường hô hấp

Với một liều nhỏ histamin cũng có thể gây co thắt cơ trơn khí phế quản, làm xuất hiện các cơn khó thở giống cơn hen phế quản. Tác dụng này xuất hiện mạnh trên bệnh nhân hen phế quản.

  • Cơ trơn đường tiêu hoá

Histamin gây tăng co bóp cơ trơn dạ dày, ruột, liều cao gây co thắt dạ dày, ruột dẫn tới đau bụng hoặc ỉa chảy.

  • Với các cơ trơn khác

Histamin cũng gây tăng co bóp các cơ trơn tiết niệu, sinh dục, mống mắt... tuy nhiên tác dụng không mạnh, không đặc trưng. Ở một số loài vật, histamin làm tăng co bóp cơ trơn tử cung nhưng đối với phụ nữ mang thai lại rất ít hoặc hầu như không bị ảnh hưởng.

1.4.4 Trên tuyến ngoại tiết

Histamin có tác dụng kích thích các tuyến gây tăng tiết, đặc biệt kích thích receptor H2 ở tế bào thành dạ dày gây tăng tiết dịch vị: tăng thể tích, tăng lượng acid hydrochloric và lượng men pepsin.

Cơ chế: Histamin làm tăng lượng AMP vòng, tăng hoạt động của các AMP vòng, kết quả làm tăng bài tiết acid trong tế bào thành dạ dày.

Tác dụng này của Histamin không bị đối kháng với các thuốc kháng histamin tổng hợp loại kháng H1.

Ở nồng độ cao, Histamin gây tăng bài tiết hormon tuỷ thượng thận.

1.5 Chỉ định

Histamin ít được dùng trong điều trị, chủ yếu được dùng trong phòng thí nghiệm.

Kích thích tiết dịch vị để lấy dịch vị làm xét nghiệm: tiêm dưới da hoặc tiêm bắp 0,25 – l mg, sau 30 phút lấy dịch vị.

Histamin phosphat được dùng làm test chẩn đoán bệnh hen phế quản và phản ứng dị ứng ở da.

Người ta cũng dùng histamin và đồng phân của nó là betazole để đánh giá khả năng bài tiết của acid dạ dày trong các bệnh: Viêm teo dạ dày, Thiếu máu ác tính, K dạ dày, Loét dạ dày - tá tràng, Hội chứng Zollinger - Ellison, Chẩn đoán bệnh u tế bào ưa chrom.

2 Thuốc kháng Histamin H1 

Tác dụng kháng Histamin được xác định lần đầu tiên vào năm 1937 do Bovet và Staub. Năm 1944, Bovet và cộng sự đã mô tả chất Pyrilamin maleat. Năm 1950, Diphenhydramin và Tripelenamin được phát hiện. Năm 1980, người ta tìm ra các thuốc kháng histamin không gây an thần.

2.1 Cấu trúc 

Tất cả các hợp chất thường được phân loại là thuốc kháng Histamine có một cấu trúc tương tự nhất định. Chất ức chế H1 - receptor thông thường được phân loại theo tính chất của nhóm kết nối với vòng Ethylamine (X). Vì vậy, các nhóm chính bao gồm Ethanolamines (X = oxy), Alkylamines (X = cacbon), hoặc Ethylenediamines (X = nitơ), Piperazines trong nhóm Ethylamine được kết nối với hạt nhân Piperazine, và Phenothiazin, trong đó nhóm Ethylamine được kết nối với nhân Phenothiazin (Douglas, 1975).

Trong phần này chúng ta đề cập đến các thuốc kháng Histamin H1.

2.2 Phân loại

2.2.1 Thuốc kháng Histamin H1 thế hệ 1

Gồm 5 nhóm:

(1) Ethanolamin: Diphenhydramin; Doxylamin; Dimenhydrinat.

(2) Ethylendiamin: Mepramin; Methapyrilen; Tripelenamin; Thonzylamin.

(3) Alkylamin: Chlopheniramin; Phenyramin; Tolpropamin.

(4) Piperazin: Buclizin; Cyclizin; Oxatomid; Cinarizin.

(5) Phenothiazin: Promethazin; Propiomazin; Dimethothiazin...

Thuốc kháng Histamine H1 thế hệ thứ nhất được phát triển hơn 70 năm trước và hiện vẫn đang được sử dụng rộng rãi. Chúng hoạt động trên các thụ thể Histamine trong não và tủy sống và trong phần còn lại của cơ thể (được gọi là ngoại vi). Chúng cũng tác động lên các thụ thể Muscarinic, Alpha-adrenergic và Serotonin. Điều này có nghĩa chúng có nhiều khả năng gây ra các tác dụng phụ như an thần, khô miệng, chóng mặt, huyết áp thấp và nhịp tim nhanh. Chúng cũng có nhiều khả năng làm giảm khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc hơn so với thế hệ thứ 2. Cùng đó khả năng tương tác với các thuốc khác cao hơn thế hệ 2. (n(By Drugs.com Staff, Antihistamines, Drug.com. Truy cập ngày 27/9/2021)n)

2.2.2 Thuốc kháng Histamin H1 thế hệ 2

Gồm 3 nhóm:

(1) Alkylamin: Acryvastin.

(2) Piperazin: Cetirizin.

(3) Piperidin: Astemizol, Loratadin.

Thuốc kháng histamin thế hệ thứ hai được phát triển vào những năm 1980 và ít có tác dụng an thần hơn thế hệ đầu tiên. Chúng hoạt động trên các thụ thể H1 ở ngoại vi và không có khả năng thâm nhập vào não, do đó ít có khả năng gây tác dụng phụ hoặc tương tác với thuốc. Hầu hết các thuốc kháng Histamin thế hệ thứ hai không gây buồn ngủ, mặc dù một số (như CetirizineFexofenadine) có nhiều khả năng gây buồn ngủ ở liều cao.

2.3 Dược động học

Các thuốc kháng là những amin hoà tan trong lipid, phần lớn chúng giống nhau về hấp thu và phân bố trong cơ thể.

  • Hấp thu

Hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chỉ sau 15 đến 30 phút có tác dụng, đạt nồng độ đỉnh sau 2 giờ, kéo dài hiệu quả trong 3 - 6 giờ (một số thuốc kháng histamin thế hệ 2 có thể kéo dài tác dụng lên đến 20 giờ).

  • Phân bố

Sau khi dùng, thuốc có mặt khắp các tổ chức trong cơ thể, bao gồm cả thần kinh trung ương. Sự khác nhau cơ bản giữa các thế hệ của các thuốc kháng histamin H1 là mức độ ức chế thần kinh trung ương gây tác dụng an thần (thuốc kháng thế hệ 2 do liên kết protein huyết tương tỷ lệ cao nên khó qua hàng rào máu não, vì vậy ít gây tác dụng an thần gây ngủ hơn).

  • Chuyển hóa

Phần lớn các thuốc kháng histamin H1 được chuyển hoá ở gan thành các chất không có hoạt tính, tuy nhiên một số thuốc kháng H1 thế hệ 2 được chuyển hoá tạo ra các chất có hoạt tính như Terfenadin chuyển hoá thành Fexofenadin còn tác dụng, Hydroyzin chuyển hoá thành Cetirizin, Ebastine thành Cerebastine. Hiện nay có xu hướng dùng luôn các chất chuyển hoá có hoạt tính của các thuốc kháng H1 thế hệ 2 đế hạn chế tác dụng không mong muốn trên tim mạch.

  • Thải trừ

Thải trừ chủ yếu qua thận (một số ở dạng không chuyển hoá). Một số kháng H1 thế hệ 1 có thời gian bán thải khoảng 20 giờ nhưng chỉ ở người lớn, còn ở trẻ em thì ngắn hơn, cho nên khi cho trẻ em uống thuốc cần chia làm nhiều lần.

2.4 Tác dụng và cơ chế tác dụng của thuốc kháng Histamin H1

2.4.1 Tác dụng kháng histamin thực thụ

Các thuốc kháng H1 tác dụng theo cơ chế: cạnh tranh vị trí gắn trên receptor H1 với histamin, vì vậy nó ngăn được tác dụng của histamin lên tế bào đích. Khi nồng độ histamin quá cao, chúng sẽ đẩy chất đối kháng ra khỏi receptor, dẫn đến làm giảm hoặc mất tác dụng của thuốc. 

Thuốc kháng H1 thường được dùng trong dự phòng hơn dùng để chữa. Tại sao lại như vậy? Đó là bởi vì khi Histamin được giải phóng, nó sẽ kéo theo hàng loạt các phản ứng, đồng thời sẽ giải phóng ra nhiều chất trung gian hóa học khác mà thuốc kháng H1 không đối kháng được. Tác dụng của các thuốc này thể hiện mạnh nhất trên cơ trơn phế quản, cơ trơn ruột. Hiệu quả của thuốc trong chữa hen hoặc các bệnh tắc nghẽn phế quản không thực sự rõ rệt. Để ức chế hoàn toàn tình trạng hạ huyết áp do Histamin gây ra, cần phối hợp hai loại kháng H1 và kháng H2.

2.4.2 Các tác dụng khác

  • Trên mạch và huyết áp

Các thuốc kháng histamin làm mất tác dụng của histamin trên mao mạch (giãn mạch, tăng tính thấm), từ đó làm giảm hoặc mất các phản ứng viêm và dị ứng, giảm phù, giảm ngứa.

  • Trên cơ trơn

Các thuốc kháng Histamin làm giảm các cơn co thắt cơ trơn đường tiêu hoá nên giảm đau bụng do dị ứng.

Cơ trơn hô hấp: Nhiều thuốc kháng H1 ngăn cản sự co thắt phế quản, do đó có tác dụng giảm ho, tuy nhiên hiệu lực chống ho kém các thuốc chống ho tác động lên thần kinh trung ương. Do đó không dùng để cắt cơn hen được, mà khi đó phải dùng các thuốc đặc trị như Theophyllin, Epinephrin, Cromolyn natri. Bên cạnh đó, thuốc kháng H1 cũng có thể làm tăng hoạt tính của các thuốc giãn phế quản khác như các amin cường giao cảm loại Ephedrin

Cơ trơn mạch máu: ức chế tác dụng co mạch của histamin.

Các tác dụng này đều chỉ phát huy tốt nếu dùng dự phòng, còn khi histamin đã tiết ra thì hàng loạt chất trung gian hoá học khác cũng sẽ giải phóng, khi đó các thuốc kháng sẽ không đốì kháng được.

  • Trên tuyến ngoại tiết

Ức chế sự bài tiết của nước bọt, nước mắt... liên quan đến histamin.

  • Trên hệ thần kinh trung ương

Các thuốc kháng H1 thế hệ I gây ra tác dụng ức chế thần kinh trung ương với các dấu hiệu như làm dịu, giảm khả năng tập trung, rơi vào tình trạng ngủ gà, chóng mặt. Tác dụng này còn có thể kéo theo tác dụng kháng cholinergic, điều này dẫn đến làm tăng tác dụng làm dịu, giảm khả năng ghi nhớ. Mức độ tác dụng không giống nhau giữa các thuốc và các cá thể. Dẫn xuất Phenothiazin và Ethanolamin gây tác dụng an thần mạnh hơn, trong khi tác dụng này ở dẫn xuất Piperazin lại yếu.

Các thuốc kháng Histamin H1 thế hệ II, chúng ít qua hàng rào máu não, do đó rất ít có tác dụng trung ương (do tính ưa nước và có ái lực với receptor H1 ngoại biên), ví dụ Fexofenadin, Loratidin...

Ở liều điều trị, đôi khi có thể thấy tác dụng kích thích thần kinh trung ương xảy ra, đặc biệt là ở trẻ nhỏ khiến bệnh nhân bồn chồn, khó ngủ.

Ở liều rất cao (liều độc) tác dụng kích thích thần kinh trung ương sẽ thấy  rõ hơn, thậm chí có thể gây co giật và hôn mê.

  • Kháng cholinergic

Các thuốc kháng H1 thế hệ 1 có tác dụng này ngay ở liều điều trị, do đó được dùng tốt để chống nôn, chống say tàu xe. Bên cạnh đó có thể phối hợp để điều trị Parkinson. Một số thuốc có thể được dùng để chống nôn cho phụ nữ có thai. Promethazin là thuốc có tác dụng tốt nhất trong nhóm với hiệu lực ngang Scopolamin. Trên lâm sàng, hai thuốc dùng để chống nôn phổ biến nhất là Diphenhydramin (Nautamin) và Dimenhydrin.

  • Kháng alpha - adrenergic

Một số thuốc kháng H1, đặc biệt là dẫn xuất Phenothizin (Promethazin) có tác dụng ức chế alpha - adrenergic nên có thể gây giãn mạch, hạ huyết áp thế đứng.  Diphenhydramin, Dexclopheniramin...ức chế thu hồi Catecholamin, do đó làm tăng tác dụng của các Catecholamin.

  • Kháng serotonin

Một số thuốc kháng H1 thế hệ 1 có tác dụng kháng serotonin (điển hình là Cyproheptadin), do đó có thể dùng để điều trị hội chứng hoặc dùng ngắn hạn để tăng cảm giác thèm ăn.

  • Gây tê tại chỗ

Một số có tác dụng chống ngứa, gây tê nhưng tác dụng này lại không có liên hệ với tác dụng kháng Histamine, như Mepyramin, Diphenhydramin. Một số có tác dụng gây tê tại chỗ, đặc biệt là Promethazin và Diphenhydramin. Các thuốc này phong bế kênh Na+ ở mặt trong màng tế bào, tương tự như Procain hoặc Lidocain, có thể gây tê tại chỗ cho những bệnh nhân dị ứng với thuốc tê thông thường.

thuoc_khang_histamin

2.5 Chỉ định

  • Chống dị ứng

Viêm mũi dị ứng; nổi mề đay; ban da, viêm da dị ứng; viêm da tiếp xúc, phù mạch; các trường hợp bị côn trùng cắn và nhiễm độc dây thường xuân, các tình trạng ngứa do dị ứng. Các thuốc kháng histamin thường là lựa chọn hàng đầu để điều trị các trường hợp dị ứng và thường mang lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, với các trường hợp hen phế quản và phù mạch thần kinh, ngoài vai trò của histamin còn có sự tham gia của nhiều chất trung gian hoá học khác nên tác dụng của các thuốc kháng histamin trong những trường hợp này bị hạn chế.

  • Chống say tàu xe, máy bay (Cinarizin, Dimenhydrinat, Promethazin, Diphenhydramin).
  • Chống nôn do dùng các thuốc điều trị ung thư: Diphenhydramin.
  • Chống nôn sau phẫu thuật: Cyclizin, Promethazin.
  • Hội chứng Meinère: Cinarizin.
  • Buồn nôn và nôn trong thai nghén (nhóm Phenothiazin).
  • Phối hợp để điều trị ho (Promethazin, Diphenhydramin).
  • Tiền mê: Phenothiazin, Cyclizin
  • Cảm cúm.

2.6 Tác dụng không mong muốn

Tác dụng không mong muốn hay gặp nhất của thuốc kháng histamin H1: thế hệ 1 là gây ngủ, an thần và kháng cholinergic. Thế hệ 2 ít gặp tác dụng này.

Tác dụng an thần của kháng H1 thế hệ 1 gây nguy hiểm cho người làm việc cần sự tỉnh táo cao như vận hành máy móc, lái tàu xe, làm việc nơi cao...

Các kháng H1, thế hệ 1 làm tăng tác dụng của rượu và các thuốc ức chế thần kinh trung ương, gây chóng mặt, mệt mỏi, mất sự phối hợp nhịp nhàng, ù tai, bồn chồn, tăng co giật (động kinh) ở trẻ em. Ở cùng liều điều trị, các kháng H1: thế hệ 2 ít gây tác dụng không mong muốn hơn.

Trên hệ tiêu hoá: ăn kém ngon, nôn, buồn nôn, tiêu chảy (thường do kháng H1 thế hệ 1 gây nên).

Các kháng H1 thế hệ 1 có tác dụng kháng cholinergic nên gây khô miệng, họng và mũi. Ngoài ra còn gây căng ngực, hồi hộp, đau đầu, khó tiêu. Các tác dụng không mong muốn này không gặp ở các kháng H1 thế hệ 2.

Gây hiện tượng xoắn đỉnh có liên quan tới điều trị bằng Terfenadin, nhất là bệnh nhân đang điều trị bằng kháng sinh nhóm macrolid (ví dụ: erythromycin), các thuốc nhóm chống nấm như Ketoconazol; có thể gây kéo dài khoảng QT dẫn đến loạn nhịp tâm thất.

2.7 Chống chỉ định

Không dùng thuốc trên các đối tượng sau:

  • Mẫn cảm với thuốc.
  • Người mang thai, thời kỳ cho con bú, u xơ tiền liệt tuyến.
  • Nhược cơ.
  • Tăng nhãn áp.

Sau đây là thông tin chi tiết về một số thuốc trong nhóm

2.8 Thuốc kháng histamin H1 thế hệ 1 - Diphenhydramin

Thuộc nhóm ethanolamin. Có tính chất giống như hầu hết các kháng H1 khác.

2.8.1 Dược động học

Hấp thu tốt khi dùng đường uống. Phân bố đến hầu hết các cơ quan, xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương, tuần hoàn rau thai và sữa mẹ. Chuyển hoá qua gan. Thời gian bán thải khoảng 4 giờ.

Diphenhydramin và một số thuốc liên quan khác có thể gây cảm ứng men chuyển hoá giống như bacbituric. Khi dùng liều nhắc lại, thời gian tác dụng có thể rút ngắn và có thể xảy ra tương tác thuốc.

2.8.2 Tác dụng

Chống nôn, gây tê tại chỗ, an thần. Ngoài ra còn có tác dụng kháng muscarinic giống như atropin.

  • Trên hô hấp:

Giãn cơ trơn khí phế quản do đối kháng tác dụng co cơ trơn phế quản của histamin.

Giảm tiết dịch đường hô hấp, một phần do tác dụng kháng histamin, một phần do tác dụng kháng muscarinic.

  • Trên mạch:

Gây co mạch làm giảm đau, giảm ngứa.

  • Trên hệ thần kinh trung ương:

Thuốc có tác dụng an thần, với liều cao kích thích thần kinh trung ương. Đây thường là tác dụng không mong muốn.

  • Gây tê:

Diphenhydramin có tác dụng gây tê tại chỗ.

  • Tác dụng khác:

Giãn đồng tử, liệt cơ thể mi, tăng nhịp tim, giảm sự bài tiết nước tiểu. Tác dụng này giống như của atropin và phần lớn là tác dụng không mong muốn.

2.8.3 Chỉ định của Diphenhydramin

Chữa dị ứng do mọi nguyên nhân (thuốc, mỹ phẩm, thức ăn, thời tiết...) Được dùng để làm giảm các triệu chứng của cơn hen phế quản mãn tính.

2.8.4 Chế phẩm và liều dùng

  • Người lớn:

Uống: 20 - 50mg X 3 lần/24h dạng viên nén hoặc viên bọc đường l0mg.

Tiêm bắp: 10 - 20mg X 2 lần/24h dạng thuốc tiêm ống l0mg/lmL.

Truyền nhỏ giọt tĩnh mạch: 10 - 20mg/ lần, pha với dung dịch NaCl. Trẻ em: uống 10 - 20mg X 3 lần/24h dạng viên nán hoặc viên bọc đưòng l0mg.

Diphenhydramin

2.9 Thuốc kháng Histamin H1 thế hệ 2 - Loratadin

Loratadin là thuốc kháng histamin 3 vòng có tác dụng kéo dài đối kháng chọn lọc trên thụ thế H1 ngoại biên và không có tác dụng trên thần kinh trung ương.

2.9.1 Dươc động học

Hấp thu nhanh sau khi uống. Tác dụng kháng histamin xuất hiện trong vòng 1 - 4 giờ, đạt tối đa sau 8-12 giờ, và kéo dài hơn 24 giờ. đạt nồng độ tối đa trong huyết tương sau 1,5 giờ. Liên kết protein huyết tương 97%. ở liều điều trị thuốc không qua được hàng rào máu não nên không phân bố vào não. Thuốc chuyển hoá qua gan lần đầu thành sản phẩm chủ yếu là descarboethoxyloratadin, là chất chuyển hoá có tác dụng dược lý. Khỏang 80% tổng liều thải trừ qua nước tiểu và qua phân ngang nhau dưới dạng đã chuyển hoá. Thời gian bán thải của thuốc là 17 giờ, tăng lên ở người cao tuổi và người xơ gan.

2.9.2 Tác dụng

Làm nhẹ bớt triệu chứng của viêm mũi và viêm kết mạc dị ứng do giải phóng histamin. Còn có tác dụng chống ngứa và nổi mày đay. Không có tác dụng bảo vệ hoặc trợ giúp với trường hợp giải phóng histamin nặng như choáng phản vệ. Thuốc không có tác dụng an thần. Ít có tác dụng phụ trên thần kinh trung ương so với các thuốc kháng H1 thế hệ II khác. Loratadin dùng ngày một lần, là thuốc được lựa chọn đầu tiên để điều trị viêm mũi dị ứngmày đay dị ứng.

2.9.3 Tác dụng không mong muốn

Khi dùng với liều lớn hơn l0mg hàng ngày có thể xảy ra một số tác dụng không mong muốn như: đau đầu, khô miệng, chóng mặt, khô mũi, hắt hơi, viêm kết mạc...

2.9.4 Chỉ định

Viêm mũi dị ứng. Viêm kết mạc dị ứng.

Ngứa và mày đay có liên quan đến histamin.

2.9.5 Chống chỉ định

Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.

2.9.6 Thận trọng

Thận trọng cho bệnh nhân suy gan.

Khi dùng loratađin có nguy cơ khô miệng, đặc biệt ở người cao tuổi, và tăng nguy cơ sâu răng. Do đó, cần phải vệ sinh răng miệng sạch sẽ khi dùng loratadin. Với phụ nữ có thai, chỉ dùng loratadin khi cần thiết, với liều thấp và trong thời gian ngắn. Loratadin và chất chuyển hoá của nó tiết vào sữa mẹ, vì vậy phụ nữ đang cho con bú nếu cần dùng thuốc nên dùng liều thấp và trong thời gian ngắn.

2.9.7 Tương tác thuốc

Khi phối hợp loratadin cùng một số thuốc như cimetidin, ketoconazol, Erythromycin sẽ làm tăng nồng độ của loratadin trong huyết tương. Do đó tránh dùng cùng, nếu phải dùng các thuốc trên, chú ý khoảng cách dùng giữa các thuốc, hoặc giảm liều Loratadin.

2.9.8 Liều dùng cách dùng

Người lớn và trẻ em từ 12 tuổi trở lên: sử dụng với liều 10mg/ 24 giờ.

Có thể dùng dạng viên nén 10mg, siro 1mg/ml, viên nén Claritin- D (l0mg loratadin + 240mg pseudoephedrin sulphat).

Trẻ em từ 2 - 12 tuổi:

Trọng lượng cơ thể >30 kg: 10ml (1mg/ml) siro loratadin/24 giờ.

Trọng lượng cơ thể <30 kg: 5ml (1mg/ml) siro loratadin/24 giờ.

Tính an toàn cũng như hiệu quả khi sử dụng loratadin cho trẻ em dưới 12 tuổi chưa được nghiên cứu đầy đủ, do đó cần thận trọng khi sử dụng trên các đối tượng này.

Người bị suy gan hoặc suy thận nặng: Dùng liều ban đầu 10mg (viên nén hoặc siro), cứ 2 ngày dùng một lần.

 

Giáo trình Dược lý học, tập 2, Nhà xuất bản Y học, 2012, trang 342-354.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ By Drugs.com Staff, Antihistamines, Drug.com. Truy cập ngày 27/9/2021
Ngày đăng
Lượt xem: 11003

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0 Thích

Diphenhydramin có tác dụng gì?

Bởi: linh thùy vào 06/11/2020 4:07:00 CH

Thích (0) Trả lời
Dược lý về histamin và nhóm thuốc kháng histamin 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá
Hủy
Dược lý về histamin và nhóm thuốc kháng histamin
Q
5 trong 5 phiếu bầu

nhân viên giao hàng thân thiện, giao hàng nhanh, gói hàng cẩn thận

Trả lời Cảm ơn (0)

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633