0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Đại cương về thiếu máu và dược lý thuốc điều trị thiếu máu

Lượt xem: 5561 Ngày đăng Ngày cập nhật
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/dai-cuong-ve-thieu-mau-va-duoc-ly-thuoc-dieu-tri-thieu-mau
TrungTamThuoc

1 ĐẠI CƯƠNG VỀ THIẾU MÁU

1.1 Bệnh thiếu máu là gì?

Thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng cầu, huyết sắc tố hoặc cả hai trong máu ngoại vi xuống dưới mức bình thường so với người cùng tuổi và cùng giới khỏe mạnh. Từ đó dẫn đến tình trạng giảm lượng oxy cung cấp cho các mô, tế bào.

1.2 Triệu chứng bệnh thiếu máu

Làm sao biết mình bị thiếu máu? Một số triệu chứng sau đây cảnh báo về căn bệnh thiếu máu:

-  Hay chóng mặt và cảm thấy khó thở: khi cơ thể không được ung cấp đủ lượng máu, lượng oxy đến các mô trong cơ thể bị suy giảm, gây khó thở.  Thiếu máu lên não gây nên tình trạng chóng mặt..

- Da nhợt nhạt, xanh xao: Không nhận được oxy, không nhận được nguồn cung cấp dinh dưỡng, da sẽ trở nên nhợt nhạt, không có sức sống.

- Cơ thể mệt mỏi: Khi thiếu máu, cơ thể uể oải, luôn trong trạng thái mệt mỏi, cảm giác không có sức lực để làm việc.

- Rối loạn tiêu hóa, ăn uống kém: Khi bị thiếu máu, cảm giác nhạt miệng, không muốn ăn uống. Đồng thời, tiêu hóa kém hơn do lượng máu không được cung cấp đủ cho hệ tiêu hóa hoạt động.

- Hồi hộp, nhịp tim đập nhanh hơn: Khi thiếu máu, cơ thể phải có cơ chế bù trừ bằng cách tăng nhịp tim để đẩy máu đi nuôi cơ thể, khiến tim đập nhanh, hồi hộp.

- Vô kinh ở phụ nữ: Tình trạng vô kinh có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng này chính là thiếu máu.

Nguyên nhân thiếu máu

Có nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng thiếu máu. Có hai loại thiếu máu: thiếu máu cấp tính và thiếu máu mạn tính.

Thiếu máu cấp tính: là tình trạng thiếu máu xảy ra sau chấn thương, phẫu thuật...

Thiếu máu mạn tính: thiếu máu xảy ra ở các bệnh nhân mắc các bệnh như loét dạ dày - tá tràng, nhiễm giun móc, suy tủy,...

Máu bao gồm chất lỏng gọi là huyết tương và các tế bào. Máu là một tổ chức di động trong cơ thể, thực hiện nhiều chức năng sinh lý vô cùng quan trọng.

Các loại tế bào máu bao gồm: hồng cầu, tiểu cầu và bạch cầu. Mỗi loại tế bào đảm nhiệm một chức năng riêng.

  • Các tế bào bạch cầu: có tác dụng chống nhiễm trùng, nó sẽ phát hiện và tóm những tác nhân lạ xâm nhập vào cơ thể. Bạch cầu gồm có bạch cầu trung tính, bạch cầu lympho, bạch cầu đơn nhân. Nếu thiếu, cơ thể sẽ dễ gặp tình trạng nhiễm trùng, dễ bị vi sinh vật xâm nhập, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, nguy cơ tử vong cao.
  • Các tế bào tiểu cầu: chức năng chính của tiểu cầu chính là cầm máu, thông qua cơ chế hình thành cục máu đông. Khi có tổn thương, các tiểu cầu sẽ liên kết để tạo thành chốt chặn vết thương hở. Khi thiếu tiểu cầu, cơ thể sẽ dễ bị xuất huyết, nhẹ thì chảy máu mũi, lâu cầm máu, nặng thì có thể khiến các cơ quan nội tạng bị xuât huyết trong, đây là tình trạng vô cùng nguy hiểm, có thể ảnh hưởng đến tính mạng.
  • Các tế bào hồng cầu: là tế bào máu chiếm số lượng lớn nhất, vai trò của nó là vận chuyển oxy từ phổi đi tới các mô trong cơ thể, đồng thời đưa khí CO2 từ các mô về phổi để đào thải ra ngoài. Khi thiếu đi thành phần này, con người sẽ rơi vào cảm giác mệt mỏi, vật vờ và gây ra nhiều tình trạng bệnh nguy hiểm. Hay người ta vẫn gọi, tình trạng thiếu hồng cầu là thiếu máu.

thieu_mau_thai_ki

Một số nguyên nhân chính gây nên tình trạng thiếu máu

Thiếu máu thiếu sắt: Hồng cầu chứa thành phần chính là hemoglobin, được tạo ra bởi các tế bào gốc ở tủy xương. Sắt cần thiết để tủy xương sản sinh hemoglobin. Nếu thiếu sắt, cơ thể không được cung cấp đủ hemoglobin, gây nên tình trạng thiếu máu. Nguyên nhân này chiếm 1-2% người lớn ở Hoa Kỳ.

Sự thiếu hụt vitamin: Cơ thể không chỉ cần có sắt để sản xuất đủ hồng cầu cho cơ thể,mà tham gia vào quá trình đó cần sự có mặt của folate và vitamin B12. Nếu thiếu hụt các vitamin này cũng ảnh hưởng đến chất lượng cũng như số lượng hồng cầu được tạo ra. Một chế độ ăn thiếu dinh dưỡng là một nguyên nhân dẫn đến việc cơ thể không được cung cấp đủ vitamin thiết yếu này. Ngoài ra có một số người, cơ thể họ không dung nạp tốt vitamin B12.

Các bệnh mãn tính: Một số căn bệnh mãn tính cản trở quá trình sản xuất hồng cầu, gây nên tình trạng thiếu máu, có thể kể đến như: ung thư, HIV/AIDS...

Thiếu máu bất sản: hay còn được biết đến là thiếu máu suy tủy xương, chức năng của tủy xương bị rối laonj, nó suy giảm hoặc mất đi khả năng tạo máu, đe dọa tính mạng của người bệnh. Nó có thể dẫn đến nhiều biến chứng vô cùng nguy hiểm như: nhiễm trùng, tăng nguy cơ ung thư, suy tim... Nguyên nhân chưa được biết đến rõ ràng, tuy nhiên, nó có thể liên quan đến tình trạng tự miễn dịch.

Thiếu máu tán huyết: các tế bào hồng cầu bị phá hủy nhanh hơn tủy xương tạo ra để thay thế. Một số căn bệnh liên quan đến rối loạn tự miễn dịch khiến cơ thể sản xuất ra các kháng thể kháng hồng cầu, làm tăng tốc độ phá hủy các tế bào hồng cầu. Ngoài ra, khi sử dụng một số Thuốc kháng sinh cũng gây nên tình trạng này.

Bất thường trong di truyền: Có thể ba mẹ không mang gen biểu hiện bệnh nhưng con lại mang gen đột biến, Một số bệnh thiếu máu hiếm gặp nhưng nguy hiểm như thiếu máu tán huyết  thalassemia, thiếu men G6PD...

1.3 Yếu tố nguy cơ gây thiếu máu

1.4 Một số yếu tố nguy cơ gây nên tình trạng thiếu máu được biết đến như:

Chế độ ăn uống kém: Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sức khỏe của con người. Bất cứ một đối tượng nào, nếu chế độ ăn thiếu sắt, vitamin, đều sẽ có nguy cơ cao mắc bệnh thiếu máu.

Rối loạn đường ruột: Khi bị rối loạn đường ruột, sự hấp thu các chất dinh dưỡng bị cản trở, ảnh hưởng đến quá trình tạo máu. Các bệnh Crohn và bệnh Celiac bị đặt vào nhóm có nguy cơ cao bị thiếu máu. Hoặc các phẫu thuật cắt bỏ, can thiệp đường ruột cũng sẽ dễ bị rơi vào tình trạng thiếu máu.

Kinh nguyệt: Phụ nữ có chu kỳ gọi là hành kinh, lúc này cơ thể của người phụ nữ mất đi một lượng máu khá lớn. Mất máu, sẽ kèm theo mất sắt, nguy cơ bị thiếu máu ở nữ giới vì thế mà cao hơn nam giới. Ngoài ra có những người thời kỳ hành kinh kéo dài, rong kinh, lượng máu kinh quá nhiều dễ gây nên thiếu máu.

Mang thai: Khi mang thai, cơ thể người mẹ cần cung cấp một lượng lớn máu cho bào thai phát triển, lúc này cơ thể người mẹ cần được bổ sung một lượng lớn sắt để phục vụ nhu cầu tạo máu. Nếu chủ quan, sẽ nguy cơ cao bị thiếu máu do thiếu sắt.

Bệnh mạn tính: Ví dụ, nếu bị các căn bệnh như ung thư thận hoặc suy gan, hoặc bệnh mãn tính khác, người bệnh có thể có nguy cơ thiếu máu. Mất máu mãn tính từ loét hay các nguồn khác trong cơ thể có thể cạn kiệt lưu trữ sắt, dẫn đến thiếu máu thiếu sắt.

Lịch sử gia đình: Yếu tố này cũng làm gia tăng nguy cơ thiếu máu. Nếu gia đình bị thiếu máu di truyền, thì con cái của họ cũng thường sẽ bị căn bệnh này.

Các yếu tố khác

Một số bệnh nhiễm trùng, bệnh máu và các rối loạn tự miễn dịch, tiếp xúc với hoá chất độc hại và việc sử dụng một số thuốc có thể ảnh hưởng đến sản xuất tế bào hồng cầu và dẫn đến thiếu máu.

Những người khác có nguy cơ thiếu máu là những người bị tiểu đường, những người đang phụ thuộc vào rượu (rượu cản trở sự hấp thu các chất dinh dưỡng) và những người tuân thủ chế độ ăn chay nghiêm ngặt, người có thể không nhận được đủ chất sắt hoặc vitamin B12 trong chế độ ăn uống.

2 CÁC THUỐC ĐIỂU TRỊ THIẾU MÁU

2.1 Sắt

Vai trò và nhu cầu của sắt với cơ thể

Nguồn cung cấp sắt cho cơ thể hàng ngày chủ yếu thông qua nguồn thực phẩm như: gan, tim, trứng, thịt đỏ, giá đậu, và các loại hoa quả (lựu, dưa hấu...).

Cơ thể người trưởng thành chứa khoảng 3 - 5 gam sắt, có trong hồng cầu, myoglobulin, một số enzym và dự trữ trong một số mô như gan, lách, tủy xương...

Ở người bình thường, nhu cầu sắt hàng ngày khoảng 0,5 - 1mg trong 24 giờ. Ở những người đang trong thời kỳ hành kinh, nhu cầu sắt cao hơn khoảng 1 - 2mg, khi phụ nữ mang thai, nhu cầu sắt tăng lên mạnh, khoảng 5 - 6mg trong 24 giờ.

Bổ sung sắt là biện pháp rất quan trọng để điều trị căn bệnh thiếu máu nhược sắc.

thuoc_dieu_tri_thieu_mau_thieu_sat

Động học của sắt trong cơ thể

- Ở dạ dày: sắt từ nguồn thức ăn có thể ở dạng ion sắt II hoặc sắt III. Sắt II được hấp thụ dễ dàng qua niêm mạc dạ dày, ruột. Sắt III thường kết hợp với albumin tại niêm mạc đường tiêu hóa, do đó không hấp thu được. Muốn hấp thu được, sắt phải được chuyển thánh sắt II nhờ tác dụng của HCl ở dạ dày.

- Tại ruột: sắt II được gắn với apoferritin ở tế bào niêm mạc ruột để tạo thành ferritin đi vào máu. Apoferritin đóng vai trò là chất mang sắt, đưa sắt vào máu. Khi cơ thể thiếu sắt, số lượng apoferritin tăng lên để làm tăng hấp thu sắt và ngược lại. Một số chất như vitamin C, protein có chứa nhóm -SH xúc tác chuyển sắt III thành sắt II dễ hấp thu. Ngược lại, một số chất cản trở sự hấp thu như: phosphat, acid nucleic, acid phytic.

- Trong máu: ferritin giải phóng sắt và sắt được gắn với p - glycoprotein, chất vận chuyển sắt đặc hiệu gọi là transferring. Thông qua transferring, sắt được chuyển đến các mô như tủy xương, có một phần ở dạng dự trữ còn một phần để tạo ra hồng cầu và các enzym.

- Trong mô: sắt đi vào trong tế bào nhờ transferritin receptor ở màng tế bào. Sắt được chuyển vào trong nội bào để tham gia cấu trúc của hem trong hồng cầu, sắc tố trong cơ và cấu trúc các enzym...Khi dư thừa sắt trong cơ thể, số lượng transferritin receptor giảm xuống, tăng dạng dự trữ sắt lên (ferritin) đồng thời tăng thải trừ sắt qua phân, mồ hôi và nước tiểu.

Chỉ định: Thuốc bổ sung sắt được chỉ định trong các trường hợp sau

- Cơ thể kém hấp thu sắt: cắt đoạn dạ dày, viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm ruột mạn...

- Thiếu máu nhược sắc do thiếu sắt: rong kinh, trĩ, giun móc.

- Người mang thai, thời kỳ cho con bú khi thiếu máu do thiếu sắt.

Chống chỉ định

Các chế phẩm chứa sắt không được chỉ định trên các đối tượng sau:

- Mẫn cảm với sắt.

- Thiếu máu tan máu, nhiễm mô hemosiderin.

- Trẻ dưới 12 tuổi và người cao tuổi không được dùng viên sắt mà chỉ dùng dạng siro hoặc thuốc giọt.

Tác dụng không mong muốn

Một số tác dụng phụ xảy ra khi sử dụng các sản phẩm bổ sung sắt đã được chỉ ra trên lâm sàng như:

- Sử dụng đường uống: có thể gây tình trạng kích ứng niêm mạc đường tiêu hóa như lợm giọng, buồn nôn, nôn, ngoài ra có thể gây táo bón.

- Chế phẩm dạng tiêm: có thể gây nhức đầu, buồn nôn, nôn, sốt, đặc biệt khi tiêm tĩnh mạch có thể gây sốc kiểu phản vệ, vì vậy cần phải tiêm tĩnh mạch chậm.

- Dùng sắt quá liều có thể gây tử vong. Khi có dấu hiệu ngộ độc: buồn nôn, nôn, chảy máu dạ dày, tụt huyết áp cần định lượng sắt huyết thanh. Nếu sắt huyết thanh cao (trên 500 microgam/100ml) thì dùng deferoxamin tiêm tĩnh mạch, liều tối đa không vượt quá 6g trong 24 giờ.

Chế phẩm và liều dùng

- Sắt gluconat (Gluconat ferreux, Cerrovon, Fergon) viên nén 0,3g.

- Sắt sulfat (Ferrosi sulfat, Feospan) viên nén bao phim, viên nang giải phóng chậm 160mg, 200mg hoặc 325mg; dạng siro chứa 90mg sắt (II) sulphat heptahydrat trong 5ml; thuốc giọt chứa 75mg sắt (II) sulphat heptahydrat trong 0,6ml dùng cho trẻ em. Ngoài ra, sắt (II) sulphat còn được dùng dưới dạng phối hợp với acid folic, vitamin c, hỗn hợp vitamin B.

- Sắt oxalat (Feroxalat) viên nén 50mg.

Liều dùng trung bình cho người lớn 200mg/ ngày, hoặc 2 - 3mg/kg/24 giờ.

Uống sau bữa ăn. Không dùng thuốc kèm với nước chè, các chất kiềm và khi suy gan, thận.

- Sắt dextran, ống l00mg sắt (II)/2ml, ống 50mg sắt (II)/10ml. Dùng tiêm bắp hoặc tĩnh mạch chậm 1 - 2 ống/ ngày.

2.2 Vitamin B12

Vitamin B12 là tên chung để chỉ các cobalamin hoạt động trong cơ thể như: cyanocobalamin, hydroxocobalamin, methylcobalamin, 5 - deoxyadenosyl cobalamin... trong đó qua trọng nhất là cyanocobalamin và hydroxocobalamin.

Nguồn gốc và nhu cầu

Vitamin B12 có chủ yếu có trong động vật như thịt, cá, trứng, gan... Ngoài ra có thể lấy từ môi trường nuôi cấy Streptomyces griseus. Trong cơ thể, vitamin B12 được một số vi khuẩn ruột tổng hợp một lượng nhỏ.

Nhu cầu hàng ngày đối với ngưòi lớn khoảng 2 microgam.

vitamin_B12

Dược động học

Vitamin B12 có thể hấp thu qua đường tiêu hoá, đường tiêm. Tuy nhiên muốn hấp thu qua đường tiêu hoá thì cần có yếu tố nội, là một glycoprotein do tế bào niêm mạc dạ dày bài tiết ra. Vào máu, vitamin B12 gắn với transcobalamin II để chuyển tới các mô. Vitamin B12 tích trữ nhiều ở gan (khoảng 90%), thần kinh trung ương, tim và nhau thai. Thải trừ nhanh qua nước tiểu, phần lớn thải trừ trong vòng 8 giờ đầu.

Tác dụng và cơ chế

Vitamin B12: là các coenzym đồng vận chuyển, tham gia vào nhiều quá trình chuyển hoá quan trọng của cơ thể, đặc biệt là 2 quá trình sau: B5 - methyltetrahydrofolat + homocystein =>Methionin + tetrahydrofolat. Đây là phản ứng liên quan đến chuyển hoá acid folic và tổng hợp ADN nên rất cần cho sự sinh sản của hồng cầu.

Phản ứng này xảy ra trong chuỗi các phản ứng chuyển hoá các chất ceton để đưa vào chu trình Kreb, cần cho chuyến hoá lipid và hoạt động bình thường của hệ thần kinh.

Nếu cơ thể thiếu vitamin B12, sẽ gây tình trạng bệnh thiếu máu hồng cầu to. Cùng với đó là rối loạn thần kinh như: viêm nhiều dây thần kinh, rối loạn cảm giác, vận động khu trú ở chân, tay, rối loạn trí nhớ và tâm thần.

Chỉ định: Các chế phẩm chứa vitamin B12 được chỉ định sử dụng khi gặp một trong các tình trạng sau đây:

- Thiếu máu ưu sắc hồng cầu to.

- Tình trạng viêm hoặc đau dây thần kinh.

- Dùng trong dự phòng thiếu máu hoặc dự phòng các tổn thương thần kinh ở những người phẫu thuật cắt dạ dày hoặc viêm ruột mạn.

Ngoài ra còn phối hợp với các vitamin khác khi cơ thể suy nhược, suy dinh dưỡng, trẻ em chậm lớn, phụ nữ mang thai, cho con bú, nhiễm khuẩn, nhiễm độc.

Tác dụng không mong muốn

Khi sử dụng các sản phẩm vitamin B12, người bệnh có thể gặp tình trạng dị ứng như sốc, mày đay, ngứa, đỏ da... đôi khi tình trạng dị ứng diễn ra rất nặng.

Chống chỉ định

Tuyệt đối không được dùng vitamin B12 trên những người bị ung thư do vitamin B12 kích thích làm tăng tiến triển khối u. Đồng thời nếu mẫn cảm với thuốc cũng không được phép chỉ định.

Chế phẩm và liều dùng

- Chế phẩm:

Cyanocobalamin (Redisol) ống 30, 100, 500 và 1000 microgam.

Hydroxocobalamin (Codroxomin) ống tiêm các hàm lượng từ 50 -5000microgam, dạng viên 200, 500 và 1000 microgam.

Ngoài ra có nhiều dạng chế phẩm phối hợp với vitamin B1, B6 (Neưramin, H5000) hoặc acid folic, sắt (Ferrimax), calci gluconat (Arphos)...

- Liều dùng:

Điều trị thiếu máu: khởi đầu 100 – 1000 microgam/24h, dùng hàng ngày hoặc cách ngày, liên tục trong 1 - 2 tuần; duy trì: 100 - 1000 microgam /lần/tháng.

Điêu trị viêm dây thần kinh: thường phải dùng liều cao và dùng dạng tiêm từ 500 - 5000 microgam /ngày.

2.3 Acid folic

Nguồn gốc - nhu cầu

Acid folic có nhiều trong thịt cá, gan, trứng và rau quả tươi nhưng nó rất dễ bị phân hủy trong quá trình chế biến bởi nhiệt.

Nhu cầu hàng ngày với người lớn 180 – 200 microgam, với phụ nữ có thai cần 400 microgam.

Dược động học

Dạng tồn tại ban đầu của acid folic chính polyglutamat. Sau khi vào cơ thể, dưới xúc tác của enzym carboxypeptidase, polyglutamat bị thủy phân, rồi bị khử dưới tác dụng của men DHF reductase tại niêm mạc ruột, cuối cùng được methyl hoá để tạo thành MDHF, chất này là dạng có hoạt tính được hấp thu vào máu. Sau khi được hấp thu, thuốc nhanh chóng được khuếch tán vào các mô trong cơ thể, thuốc vào được dịch não tủy, nhau thai và sữa mẹ. Con đường thải trừ chính qua nước tiểu.

Tác dụng và cơ chế

Tetrahydrofolat là dạng khử của acid folic, đây là coenzym đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trình chuyển hoá như:

- Tham gia vào quá trình tạo glycin từ serin với sự tham gia của vitamin B6.

- Chuyển deoxyuridylat thành thymidylat để tạo ADN - thymin.

- Tham gia tổng hợp các nucleotid có nhân purin và pyrimidin do đó ảnh hưởng tới tổng hợp ADN.

Đặc biệt acid folic là chất không thể thiếu cho việc tạo hồng cầu bình thường. Do đó, khi thiếu acid folic gây thiếu máu nguyên hồng cầu khổng lồ.

Chỉ định: Các chế phẩm chứa acid folic được chỉ định trong các trường hợp sau

- Phòng và điều trị các trường hợp thiếu acid folic như thiếu máu hồng cầu to, thiếu máu tan máu.

- Những người đang sử dụng các thuốc kháng acid folic, ví dụ như methotrexat, thuốc chống động kinh hydantoin.

- Bệnh nhân sốt rét, phụ nữ mang thai hay khi nhu cầu acid folic tăng...

Tác dụng không mong muốn

Acid folic thường dung nạp tốt, ít tác dụng không mong muốn. Tuy nhiên có thể gặp ngứa, nổi ban, mày đay hoặc rối loạn tiêu hoá trong khi dùng thuốc.

Chế phẩm và liều dùng

- Chế phẩm:

Viên nén, viên nang 0,4; 0,8; 1 và 5mg.

Ống tiêm 2,5 và 5mg/mL, tiêm dưới da, tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch.

- Liều dùng:

+ Điều trị thiếu máu hồng cầu to:

Người lớn và trẻ em trên 1 tuổi: 5mg/24h.

Trẻ em dưới 1 tuổi: 500microgam/kg/24h.

+ Bổ sung cho phụ nữ mang thai: 200 – 400microgam/24h.

2.4 Các thuốc chống thiếu máu khác

Erythropoietin

Chủ yếu do tế bào cạnh cầu thận tiết ra có tác dụng kích thích tủy xương sinh sản hồng cầu. Thuốc thường được dùng trong các trường hợp thiếu máu do viêm thận, do tổn thương tủy xương hoặc do thiếu sắt. Ngoài ra còn được dùng trong thiếu máu do AIDS, hỗ trợ điều trị thiếu máu do mất máu sau phẫu thuật và do dùng thuốc chống ung thư.

Các chế phẩm chứa erythropoietin bao gồm: epoetinalpha (Epogen, Eprex) lọ 2000, 4000 và 10.000 đơn vị. Được sử dụng theo đường tiêm tĩnh mạch hoặc dưới da, liều sử dụng 50 - 100 đơn vị/kg/24 giờ.

Ngoài ra còn có: đồng, cobalt clorid, vitamin B6, vitamin B2.

Copy ghi nguồn TrungTamThuoc.com

Link bài viết: Đại cương về thiếu máu và dược lý thuốc điều trị thiếu máu

3 Tài liệu tham khảo

Giáo trình Dược lý học, tập 2, Nhà xuất bản Y học, 2012, trang 127-130.

 

 


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

0981199836