0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

[KIẾN THỨC SẢN KHOA] ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DẠ

https://trungtamthuoc.com/bai-viet/dac-diem-qua-trinh-chuyen-da
TrungTamThuoc

, 6 phút đọc

, Cập nhật lần cuối:

Vai trò của cơn co tử cung là gây là sự xóa mở cổ tử cung, thay đổi đáy chậu và lập đoạn dưới tử cung để dễ dàng đẩy thai nhi, ối, rau thai, màng bong ra bên ngoài.

 

1 Đại cương về quá trình chuyển dạ

1.1 Một số khái niệm cơ bản

Chuyển dạ là sự xuất hiện các cơn co tử cung thực sự làm mở cổ tử cung để đẩy thai và phần phụ của thai ra khỏi buồng tử cung của thai phụ.

Hiện tượng chuyển dạ

Hiện tượng chuyển dạ

Đẻ đủ tháng là thai phụ chuyển dạ trong khoảng thời gian tuổi thai đạt 38 đến 42 tuần tuổi, trung bình là 40 tuần. Theo các chuyên gia y tế thì đây là thời gian mà thai nhi đã đủ sự trưởng thành và đủ điều kiện đề sống độc lập bên ngoài.

Đẻ non tháng là thai phụ có hiện tượng chuyển dạ trong tuần tuổi từ 28-37 tuổi, thai nhi vẫn có thể sống được bên ngoài.

Đẻ già tháng là sự chuyển dạ sau 42 tuần tuổi hay sau 2 tuần trở lên so với ngày dự sinh.

Sảy thai là tình trạng thai kì chấm dứt trước tuần thứ 28, lúc này bào thai vẫn chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ để có khả năng thích nghi với môi trường bên ngoài tử cung do đó không thể sống được.

Đẻ thường là sự chuyển dạ đúng với sinh lý bình thường không cần can thiệp bằng các biện pháp khác, cuộc đẻ chủ yếu dựa vào sức rặn của người mẹ.

Đẻ khó là sức rặn của người mẹ không đủ để đẩy thai và phần phụ ra ngoài cần có sự can thiệp của thầy Thuốc và các biện pháp hỗ trợ khác.

1.2 Các giai đoạn của chuyển dạ

Một cuộc chuyển dạ được chia làm 3 giai đoạn như sau:

  • Giai đoạn xóa mở cổ tử cung: Giai đoạn này thường kéo dài trung bình là 15 giờ (con so là 16-20 giờ, con rạ là 8-12 giờ) tính từ khi bắt đầu có cơn co tử cung tới khi cổ tử cung mở hết. Đây là giai đoạn chiếm thời gian dài nhất của cả cuộc đẻ.
  • Giai đoạn sổ thai: thời gian trung bình với con so là không quá 1 giờ và con rạ là không quá 30 phút tính từ khi cổ tử cung mở hết tới khi thai sổ.
  • Giai đoạn sổ rau: trung bình chỉ không quá 30 phút tính từ khi thai sổ ra ngoài đến khi rau bong và sổ ra ngoài cùng màng rau.

Cổ tử cung thay đổi trong quá trình chuyển dạ

Cổ tử cung thay đổi trong quá trình chuyển dạ

1.3 ​Động lực của cuộc chuyển dạ

Cơn co tử cung xuất hiện với khoảng cách giữa các cơn ngày càng ngắn dần là động lực của cuộc chuyển dạ.

Vai trò của cơn co tử cung là gây là sự xóa mở cổ tử cung, thay đổi đáy chậu và lập đoạn dưới tử cung để dễ dàng đẩy thai nhi, ối, rau thai, màng bong ra bên ngoài.

2 Nguyên nhân gây ra chuyển dạ

Cơ chế thật sự thúc đẩy cuộc chuyển dạ bắt đầu hiện vẫn chưa được xác định đầy đủ. Một số giả thuyết liên quan đến các hormone như sau:

Prostaglandin (PG)

Prostagladin là những chất có khả năng thay đổi tính co bóp của cơ tử cung. Trong quá trình thai nghén, nồng độ PGF2 và PGE2 tăng dần và đạt mức cao nhất trong nước ối, màng rụng và trong cơ tử cung khi đến ngày chuyển dạ. Chúng làm mềm cổ tử cung nhờ tác động vaof các sợi collagen của cổ tử cung, giúp cổ tử cung mở ra dễ dàng hơn. Có thể kích thích chuyển dạ bằng cách tiêm prostaglandin cho thai phụ ở bất kì tuần tuổi nào.

Estrogen và Progesteron

Các sợi cơ tử cung bị kích thích trong suốt quá trình mang thai bởi sự tăng dần nồng độ estrogen trong thời kì mang thai của người mẹ. Bởi vậy, cơ tử cung mẫn cảm hơn với các tác nhân gây ra sự co cơ tử cung, đặc biệt là oxytoxin. Ngoài ra thì, sự tăng lên của estrogen cũng là một yếu tố thuận lợi giúp cơ thể tăng tổng hợp prostaglandin.

Progesteron có tác dụng ức chế co bóp cơ tử cung. Vào giai đoạn cuối thai kì, cơ thể giảm tiết progesterol khiến tỉ lệ estrogen/progesteron  thay đổi. Đây cũng được cho là một yếu tố kích thích sự chuyển dạ.

Oxytocin

Trong quá trình chuyển dạ người ta thấy có sự tăng giải phóng oxytocin thùy sau tuyến yên sarnn phụ. Nồng độ oxytocin có sự tăng lên trong khi chuyển dạ và đạt đỉnh khi rặn đẻ. Tuy vậy, người ta cho rằng oxytocin chỉ thúc đẩy quá trình chuyển dạ diễn ra chứ không đóng vai trò quan trọng gây chuyển dạ.

3 Cơn co tử cung

Cơn co tử cung xuất hiện là dấu hiệu của chuyển dạ

Cơn co tử cung là sự báo hiệu sự chuyển dạ và cũng là động lực chính của quá trình này. Cơ chế của cơn co tử cung là các sợi actin và myosin trượt lên nhau nhờ năng lượng được cung cấp do thủy phân ATP. Nếu cơn co tử cung có điều bất thường có thể dẫn đến chuyển dạ dài gây ra tai biến nguy hiểm cho cả mẹ và bé.

3.1 Tính chất của cơn co tử cung

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng thực tế, khi chưa chuyển dạ thì tử cũng cũng đã có những cơn co bóp nhẹ (cơn con Hicks) nhưng không gây đau và áp lực chỉ khoảng 13-15mmHg. Khi cơn co tử cung tăng cả về cường độ (khoảng 25-30mmHg) và tần số sẽ khiến sản phụ đau. Đây là dấu hiệu bắt đầu chuyển dạ.

Điểm xuất phát của cơn co tử cung là từ 1 trong 2 sừng tử cung, thường là từ sừng bên phải rồi lan truyền xuống với tốc độ 1-2cm/s.

Cơn co tử cung có tính chu kì và tăng dần, kéo dài hơn. Độ dài của cơn co tử cung  khi bắt đầu chuyển dạ thường chỉ khoảng 15-20 giây và ở cuối giai đoạn mở cổ tử cung đạt khoảng 30-40 giây.

Khoảng cách giữa hai cơn co tử cung được tính bằng phút. Ở giai đoạn mở cổ tử cung đạt khoảng  3-5 cơn/10 phút và giai đoạn rặn đẻ là khoảng 4-6 cơn/10 phút.

Tùy vào số  lần đẻ, tính chất cuộc đẻ và chất lượng tử cung mà số lượng cơn co trong mỗi cuộc đẻ thay đổi từ 70-180 lần. 

3.2 Các hình thái cơn co tử cung

Loại 1: cơn co tử cung dạng chuông, pha tăng và giảm áp lực tương xứng với nhau, dạng này thường gặp.

Loại 2: pha tăng áp lực ngắn hơn pha giảm áp lực. Không có giai đoạn nghỉ giữa 2 cơn co mà âm ỉ cho tới khi xuất hiện cơn co mới, dạng này cũng thường gặp.

Loại 3: ngược lại so với loại hai, chỉ hay gặp trong giai đoạn bắt đầu chuyển dạ.

Loại 4: có sự thay đổi đều đặn của 2 loại cơn co xen kẽ, sản phụ thường ít gặp trường hợp này.

4 Cơn co thành bụng trong giai đoạn 2 của cuộc chuyển dạ

Khi bước vào giai đoạn 2 của cuộc chuyển dạ, ngôi thai đã lọt vào tiểu cung đè lên cơ nâng hậu môn. Lúc này thai phụ sẽ có cảm giác muốn rặn và dùng sức rặn theo các cơn co tử cung để tăng áp lực buồng trứng tới 120-150mmHg giúp đẩy thai nhi ra ngoài.

Cơn do thành bụng

Thai phụ có cảm giác muốn rặn khi bước vào giai đoạn 2

Khác với cơn co tử cung là sản phụ không thể tự chủ được thì các cơ thành bụng là cơ vân nên sản phụ có thể điều khiển được các cơn co thành bụng. Sự kết hợp giữa cơn co thành bụng với cơn co tử cung rất quan trọng bởi vậy sản phụ cần rặn đẻ theo sự hướng dẫn của bác sĩ sản khoa để rút ngắn thời kì sổ thai, tránh những nguy hiểm không đáng có do thời kì này kéo dài quá mức.

5 Sự thay đổi của mẹ, thai và phần phụ của thai do tác động của cơn co tử cung

5.1 Thay đổi của mẹ

Sự xóa - mở cổ tử cung:

  • Xóa là đường kính lỗ trong cổ tử cung rộng dần ra nhưng lỗ ngoài không thay đổi, khiến cổ tử cung biến từ hình trụ thành hình chóp cụt. 
  • Mở tức là lỗ ngoài tử cung giãn đến khi mở hết là 10cm. Lúc này tử cung thông thẳng với âm đạo và thành lập nên ống đẻ.
  • Sự xóa mở cổ tử cung nhanh hay chậm phụ thuộc vào các yếu tố như đầu ối đè vào cổ tử cung ít hay nhiều, tính chất của cơn co tử cung, tình trạng cổ tử cung,...

Sự thành lập đoạn dưới

Đoạn dưới tử cung ngày càng dài ra, thân tử cung ngắn lại và cổ tử cung xóa mở thêm. Đoạn dưới chỉ liên kết với lớp cơ qua một lớp liên kết lỏng lẻo dễ bóc tác. Do đó, người ra hay mổ lấy thai ở dây.

Ở đoạn dưới chỉ có hai lớp cơ do đó đây là phần dễ vỡ nhất khi chuyển dạ.

5.2 Thay đổi ở đáy chậu và tầng sinh môn

Dưới áp lực của cơn co tử cung, ngôi thai dần xoay xuống dần trong tiểu khung, áp lực của ngôi thai đẩy dần mỏm xương cụt ra phía sau với đường kinh thay đổi từ 9,4cm thành 11cm. Các cơ tầng sinh môn có sức cản khiến ngôi thai bị đẩy hướng ra phía trước.

Dưới tác dụng cảu cơn co tử cung và cơn co thành bụng, sau khi ngôi thai đè vào tầng sinh môn sẽ giãn dài, âm môn mở rộng, thay đổi hướng dần dần nằm ngang.

5.3 Thay đổi của thai

Cơn co tử cung và cơn co thành bụng sẽ tạo ra áp lực đẩy thai từ buồng tử cung ra ngoài. Khi đoạn dưới được thành lập, ngôi thai xuống thấp dần và áp sát và cổ tử cung sẽ giúp cho cổ tử cung xóa mở tốt hơn.

Ngôi thai xoay xuống dưới vào cuối thai kì

Ngôi thai xoay xuống dưới vào cuối thai kì

5.4 Thay đổi ở phần phụ của thai

Thành lập đầu ối

Các cơn co tử cung làm màng rau bong ra và nước ối dồn xuống tại thành đầu ối.

  • Ối dẹt: màng ối hầu như sát vào ngôi thai, tiên lượng tốt.
  • Ối phồng: giữa màng ối và ngôi thai có một lớp ối dày, hay gặp ở trường hợp ngôi thai bình chỉnh không tốt.
  • Ối hình quả lê: đầu ối dài trong âm đạo trong khi cổ tử cung chưa mở đủ rộng, thường gặp trong thai chết lưu.

Tác dụng của đầu ối là hỗ trợ sự xóa mở cổ tử cung, bảo vệ thai nhi tránh các sang chấn ở bên ngoài và chống nhiễm khuẩn cho thai nhi.

Các hình thái vỡ ối là vỡ đúng lúc (khi cổ tử cung đỡ mở hết), vỡ sớm (khi cổ tử cung chưa mở hết) và vỡ ối non (khi chưa có sự chuyển dạ).

Bong và sổ rau

Sau khi sổ thai, cơn co tử cung sẽ xuất hiện lại sau một thời gian ngắn làm rau thai và mang rau bong ra, sổ ra ngoài theo đường sinh dục. Sau đó, tử cung sẽ co chặt lại gây tắc mạch sinh lý để cầm máu.

 

Copy ghi nguồn: https://trungtamthuoc.com

Link bài viết: [KIẾN THỨC SẢN KHOA] ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DẠ

Ngày đăng
Lượt xem: 1874

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0 Thích

Tiêm oxytocin thúc đẩy chuyển dạ khi sản phụ khó sinh được không?

Bởi: Trịnh Mai vào 10/11/2020 2:33:19 CH

Thích (0) Trả lời
[KIẾN THỨC SẢN KHOA] ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DẠ 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá
Hủy
[KIẾN THỨC SẢN KHOA] ĐẶC ĐIỂM CỦA QUÁ TRÌNH CHUYỂN DẠ
HA
5 trong 5 phiếu bầu

Cảm ơn dược sĩ nhà thuốc đã tư vấn nhiệt tình cho mình.

Trả lời Cảm ơn (0)

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900888633