0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Bệnh viêm da tiết bã: nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

Lượt xem: 3110 Ngày đăng Ngày cập nhật
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/benh-viem-da-tiet-ba
TrungTamThuoc

Viêm da tiết bã nhờn gặp ở hai nhóm bệnh nhân riêng biệt, đó là trẻ nhỏ và người lớn. Nguyên nhân và triệu chứng gây ra tình trạng này là gì? Trong bài viết này Trung Tâm Thuốc sẽ đề cập đến các vấn đề viêm da tiết bã.

 

1 Định nghĩa viêm da tiết bã

Viêm da tiết bã là một tình trạng viêm da rất phổ biến gây ra đỏ, các mảng vảy và gàu. Nó thường ảnh hưởng đến da đầu, nhưng cũng có thể phát triển ở những vùng da dầu trên cơ thể, như mặt, ngực trên và lưng. viêm da tiết bã xảy ra cả ở trẻ em và người lớn. Bệnh có đặc trưng là ban đỏ và vảy bã. Bệnh nhân nhiễm HIV hoặc AIDS là nhóm người hay gặp tình trạng bệnh viêm da tiết bã.

Viêm da tiết bã da đầu.

Viêm da tiết bã ở đầu.

2 Nguyên nhân viêm da tiết bã

Nguyên nhân của viêm da tiết bã vẫn chưa rõ ràng. Nhưng có thể liên quan đến tăng tiết bã nhờn, thành phần chất bã thay đổi và nấm Malassezia furfur.

Viêm da tiết bã xảy ra khi quá trình tái tạo da bị rút ngắn. Làm cho các tế bào lớp sừng bong tróc nhanh hơn, vì vậy chúng sẽ kết dính lại với nhau tạo thành vảy.

Các yếu tố thuận lợi liên quan đến bệnh:

Da bị nhờn, các tuyến tiết dầu hoạt động mạnh: Nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên, người trẻ.

Hormone đóng vai trò liên quan đến viêm da tiết bã. Bệnh thường gặp ở nam nhiều hơn. Chứng tỏ có sự ảnh hưởng của hormon lên đơn vị nang lông tiết bã.

da nhờn nhiều dầu

Da nhờn da dầu là yếu tố nguy cơ viêm da tiết bã.

Tính di truyền: khả năng bị cao nếu trong gia đình có người bị bệnh viêm da tiết bã hay vảy nến.

Tình trạng căng thẳng stress về thể chất hoặc tinh thần.

Bệnh Parkinson, bệnh tâm thần.

Người có suy giảm miễn dịch như mắc HIV.

Thay đổi nội tiết tố, chế độ dinh dưỡng không hợp lý,cơ thể mệt mỏi.

Bệnh nhân dùng một số thuốc: Thuốc an thần, methyldopa, cimetidine. 

3 Triệu chứng của bệnh viêm da tiết bã

3.1 Lâm sàng

Bệnh khởi phát từ từ có thể khí nhận ra. Bệnh nhân có thể cảm thấy ngứa khó chịu hoặc không. Tổn thương tại da là mảng hồng ban hơi vàng, được bao phủ bởi vảy bã. Vảy này được tách ra dễ dàng. Các vị trí viêm da bã nhờn thường gặp là:

  • Da đầu.

  • Tai:  xoăn tai và nếp sau tai ngoài.

  • Lông mày (da bên dưới).

  • Trung tâm của khuôn mặt: nếp má mũi, điểm giữa trên gốc mũi.

  • Mí mắt.

  • Ngực trên.

  • Lưng trên.

  • Nách.

  • Bộ phận sinh dục.

Viêm da tiết bã trên khuôn mặt.

Viêm da tiết bã trên khuôn mặt.

Các dạng lâm sàng cụ thể.

  • Người lớn.

Dạng vảy gàu (Pityriasis capitis): là tình trạng viêm da tiết bã nhẹ ở da đầu. Với tróc vảy trắng là hình ảnh nổi bật.

Mi mắt: Hồng ban tróc vảy ở bờ mi mắt, kèm viêm kết mạc.

Viêm da tiết bã dạng vảy phấn: vị trí xuất hiện ở thân và chi. Hiếm gặp. Triệu chứng điển hình là phát ban đỏ da toàn thân tróc vảy.

Viêm da tiết bã tại nếp gấp: vị trí viêm liên quan đến nếp cơ thể. Như nếp sau tai ngoài, nếp trong đùi, vùng sinh dục và nếp dưới vú. Thương tổn có thẻ gây rỉ dịch.

Viêm nang lông do nấm malassezia. Xảy ra tại vùng da có nhiều dầu. Biểu hiện bằng sẩn đỏ nang lông, ngứa, đôi khi có mủ. Có thể là biến chứng của viêm da tiết bã, trường hợp này thường gặp người suy giảm miễn dịch.

Đỏ da toàn thân tróc vảy: là một biến chứng nguy hiểm của viêm da tiết bã. Nguyên nhân do điều trị không đúng thuốc,  gây viêm da kích ứng. Hậu quả là nhịp tim nhanh và rối loạn điều hòa thân nhiệt..

  • Trẻ nhỏ.

Khi trẻ sơ sinh bị viêm da tiết bã, nó có xu hướng hình thành trên da đầu, các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm:

Vảy màu vàng, nhờn trên da đầu.

Một lớp vảy dày có thể bao phủ toàn bộ da đầu.

Tổn thương thường có màu vàng đến màu nâu.

Theo thời gian, vảy trở nên bong tróc và dễ dàng biến mất.

Ở trẻ sơ sinh, viêm da tiết bã cũng có thể hình thành trên mặt, thường là trên mí mắt của bé, quanh mũi hoặc tai. Hoặc hình thành trong khu vực bé đóng tã.

  • Viêm da tiết bã liên quan đến HIV.

Ở bệnh nhân nhiễm HIV viêm da tiết bã bùng phát, lan tỏa và viêm ở diện rộng.

3.2 Cận lâm sàng

Giải phẫu mô bệnh: tâm điểm là hiện tượng á sừng với một ít bạch cầu trung tính. Có sự viêm không đặc hiệu của lớp bì. Hình ảnh đặc trưng nhất là các bạch cầu trung tính (NEUT) tại đỉnh của lỗ của nang lông giãn. 

Soi nấm trực tiếp giúp loại trừ nguyên nhân viêm da do nấm sợi dermatophytes hoặc nấm men.

4 Điều trị viêm da tiết bã

Việc điều trị viêm da tiết bã tùy thuộc mức độ nặng nhẹ của triệu chứng và vị trí bị viêm. Định hướng điều trị chung như sau:

Sử dụng các thuốc chứa hoạt chất làm bong vảy tại chỗ giúp như: acid salicylic, acid lactic, urea, propylene glycol.

Dùng các sản phẩm chứa thuốc kháng nấm tại chỗ: ketoconazol, ciclopirox. Một số chủng Malassezia kháng với thuốc chống nấm azol, thay thế bằng kẽm pyrithion hoặc selenium sulphit.

Dùng corticosteroid loại nhẹ từ 1-3 tuần để giảm viêm, gián đoạn giai đoạn bùng phát bệnh.

Kem pimecrolimus, mỡ tacrolimus có tác dụng ức chế calcineurin tại chỗ. Nhóm này ít tác dụng phụ hơn corticosteroid khi sử dụng ở vùng mặt.

Đối với các trường hợp bệnh nặng bác sĩ có thể sử dụng itraconazole uống, kháng sinh và can thiệp bằng liệu pháp ánh sáng.

Sử dụng thuốc điều trị.

Sử dụng thuốc điều trị.

Điều trị cụ thể.

  • Ketoconazole: nồng độ trong các sản phẩm dầu gội, kem bôi là 2%. 

Vùng da đầu: 2 lần mỗi tuần đến khi sạch thương tổn. Sau đó duy trì một tới 2 lần mỗi tuần.

Vùng da khác: dùng 2 lần mỗi ngày tới khi hết thương tổn. Duy trì 2 lần mỗi tuần sau đó giảm xuống 1 lần 2 tuần.

  • Ciclopirox olamine: có nồng độ 1%, 1,5% trong dầu gội hoặc kem bôi.

Da đầu: dùng 2-3 lần/tuần đến khi sạch thương tổn. Duy trì 1 lần/tuần hoặc 1 lần/ 2 tuần.

Vùng da khác: dùng 2 lần/ngày đến khi hết thương tổn. Sau đó duy trì mỗi ngày một lần.

  • Nhóm Corticosteroids dùng ngoài da bao gồm: Hydrocortisone 1%, Betamethasone dipropionate 0.05%, Clobetasol 17-butyrate 0.05%, Desonide 0.05%

Dùng 1-2 lần mỗi ngày. Thời gian điều trị tùy từng thể bệnh, có thể từ 1-3 tuần.

  • Kem bôi Pimecrolimus hàm lượng 1%, Thuốc mỡ Tacrolimus 0.03%, 0.1%.

Dùng 2 lần mỗi ngày tới khi hết tổn thương viêm hoặc theo chỉ định của bác sĩ.

  • Dầu gội chứa Selenium suicide 2.5%, Zinc pyrithione 1%. Dùng 2 lần mỗi tuần tới khi hết triệu chứng viêm.


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900888633