0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Bệnh thủy đậu: Cách thức lây lan, chẩn đoán, điều trị và dự phòng

https://trungtamthuoc.com/bai-viet/benh-thuy-dau-phuong-thuc-lay-lan-chan-doan-dieu-tri-va-du-phong
TrungTamThuoc

, 4 phút đọc

, Cập nhật lần cuối:

Thủy đậu rất dễ lây, nó lây giữa các thành viên trong gia đình chưa có miễn dịch và bạn cùng lớp khi tiếp xúc với dịch mụn nước, vết loét. Nó cũng có thể được truyền gián tiếp bằng cách tiếp xúc vết thương hở với quần áo và các vật dụng khác của bệnh nhân.

1 Bệnh thủy đậu là gì?

Thủy đậu là bệnh truyền nhiễm, gặp ở những người chưa miễn dịch và nhiễm virus Varicella-zoster lần đầu tiên. Với những người đã từng nhiễm và có miễn dịch, khi nhiễm tái phát lại gây ra các triệu chứng gọi là bệnh zona. Bệnh có thể lây khi tiếp xúc với giọt không khí hoặc mụn nước có chứa virus Varicella-zoster ở người mắc bệnh. Bệnh thường gặp chủ yếu ở trẻ em với các triệu chứng điển hình như phát ban da rất ngứa với những mụn nước đỏ và sốt nhẹ. Người bệnh có những cảm giác khó chịu nhưng ít khi có hậu quả nghiêm trọng, các triệu chứng thường nguy hiểm hơn ở những người có hệ miễn dịch yếu.

Bệnh thủy đậu - do nhiễm virus Varicella-zoster.

Bệnh thủy đậu - do nhiễm virus Varicella-zoster.

2 Cách thức lây lan của bệnh thủy đậu

Thủy đậu rất dễ lây, nó lây giữa các thành viên trong gia đình chưa có miễn dịch và bạn cùng lớp khi tiếp xúc với dịch mụn nước, vết loét. Nó cũng có thể được truyền gián tiếp bằng cách tiếp xúc vết thương hở với quần áo và các vật dụng khác của bệnh nhân.

Người bị nhiễm bệnh có thể lây nhiễm đến 5 ngày trước và sau khi phát ban xuất hiện. Điều quan trọng là người bị nhiễm phải ở cách ly những người khác trong khi có mụn nước và vết loét ướt. Khi tất cả các vết loét bị vỡ và khô, thường mất khoảng một tuần, bệnh nhân được coi là không còn dễ lây bệnh.

Sàng lọc và tiêm chủng cho thủy đậu được khuyến khích mạnh mẽ cho những người sẽ làm việc trong các ngành nghề chăm sóc sức khỏe.

Virus Varicella trở về trạng thái không hoạt động hoặc tiềm ẩn sau hội chứng thủy đậu cấp tính. Chúng đôi khi có thể tái phát như một phát ban các mụn nước trông giống như thủy đậu, hội chứng này được gọi là bệnh Zona hoặc herpes zoster. Bệnh zona ít lây nhiễm hơn bệnh thủy đậu, nó không lây truyền qua virus trong không khí mà là do tiếp xúc trực tiếp với mụn nước.

Miễn dịch thu được đối với thủy đậu thường là suốt đời, nghĩa là thông thường chúng ta chỉ bị thủy đậu một lần trong đời.

3 Thủy đậu được chẩn đoán như thế nào?

3.1 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh thủy đậu

Bệnh thủy đậu có thời gian ủ bệnh trong khoảng 10 đến 21 ngày, đa số là từ 14-17 ngày. Trước khi có xuất hiện nổi ban 1 đến 2 ngày, người bệnh thường mệt mỏi, sốt khoảng 3 đến 5 ngày khoảng 37,8° - 39,4°C.

Sau đó, người nhiễm bệnh xuất hiện các nốt ban trên da, bắt đầu từ mặt và thân rồi lây lan ra các bộ phận khác của cơ thể. Các nốt ban mới đầu dạng dát sẩn, sau vài giờ đến vài ngày hình thành các nốt phỏng nước, đa phần chúng nhỏ 5-10 mm, có viền đỏ xung quanh. Các ban da có hình tròn hay bầu dục, ở giữa các nốt phỏng dần dần lõm xuống khi các tổn thương bắt đầu thoái triển.

Các nốt phỏng ở người bệnh thủy đậu, ban đầu có dịch trong, dạng giọt sương, rồi dần trở nên đục. Sau đó các nốt phỏng này bị vỡ  ra hay thoái triển, hình thành vảy, chúng sẽ rụng sau 1 đến 2 tuần, để lại sẹo lõm nông.

Nốt ban phồng nổi lên các đợt liên tiếp trong 2-4 ngày, có vùng da có thể có tất cả giai đoạn ban bao gồm dát sẩn, phỏng nước và vảy.

Các vết thương do bệnh thủy đậu có thể thấy ở mọi vùng da, cả kể niêm mạc hầu họng và âm đạo.

Mỗi người bệnh có số lượng và mức độ ban da khác nhau, thường trẻ càng nhỏ sẽ càng ít ban hơn, ban nhiều hơn ở bệnh thứ cấp hay tam cấp.

Ở những người suy giảm miễn dịch đặc biệt là người bệnh ung thư máu, các tổn thương thường nhiều và nặng hơn. Họ có thể có tình trạng xuất huyết ở các nốt phỏng, thời gian liền các tổn thương thường chậm hơn. Ở những đối tượng này, biến chứng nội tạng và nguy cơ tử vong cũng sẽ cao hơn đặc biệt khi không điều trị kháng virus.

Bệnh thủy đậu có các nốt ban da đặc trưng, có thể xuất hiện trên mọi vùng da, niêm mạc.

3.2 Các triệu chứng cận lâm sàng

Khi kiểm tra công thức máu ở những người bệnh thủy đậu thấy số lượng bạch cầu vẫn bình thường hoặc giảm nhẹ, men gan có thê tăng cao.

Người bệnh thủy đậu có thể làm xét nghiệm dịch nốt phỏng để tìm tế bào khổng lồ đa nhân, PCR tìm ADN của Herpes zoster...

Cần phân biệt thủy đậu với một số bệnh có phát ban có triệu chứng ban tương tự như tay chân miệng, viêm da mủ và một số bệnh khác.

4 Liệu pháp điều trị bệnh thủy đậu

Điều trị thủy đậu chủ yếu là làm giảm các triệu chứng gồm hạ sốt và chăm sóc tổn thương da. Điều trị kháng virus Herpes để làm giảm nghiêm trọng và thời gian bị bệnh, đặc biệt với những trường hợp suy giảm miễn dịch.

4.1 Điều trị kháng virus bệnh thủy đậu

  • Acyclovir ức chế hoạt động của cả HSV -1 và HSV-2, người lớn dùng liều 800 mg/lần, ngày 5 lần từ 5-7 ngày. Với các bé dưới 12 tuổi uống với liều 20 mg/kg mỗi lần, cứ 6 giờ lại dùng một lần. Bệnh nhân ít đau hơn và giải quyết nhanh hơn các tổn thương ở da khi dùng acyclovir trong vòng 48 giờ kể từ khi phát ban. Nó có thể ngăn chặn sự bùng phát tái phát và người bệnh phải bắt đầu điều trị sớm.
  • Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch nghiêm trọng, có biến chứng lên não cần điều trị bằng cách: Lựa chọn sử dụng acyclovir tĩnh mạch trong thời gian đầu, với liều 10-12,5 mg/kg/lần, cách mỗi 8 giờ một lần. Như vậy người bệnh sẽ giảm các biến chứng của bệnh thủy đậu lên nội tạng, điều trị như vậy 7 ngày. Với những trường hợp bệnh nhân thủy đậu có suy giảm miễn dịch nguy cơ ít có thể được điều trị bằng Thuốc kháng virus đường uống.

4.2 Biện pháp hỗ trợ với người bệnh thủy đậu

– Người bệnh thủy đậu phải có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, bổ sung nhiều nước và các vitamin nhóm B, C.

– Bệnh nhân cần được vệ sinh cá nhân sạch sẽ bằng nước sạch, không sử dụng xà bông và chà sát da khiến mụn nước bị vỡ ra.

– Có thể vệ sinh các vùng da tổn thương, mụn nước bằng dung dịch sát khuẩn gồm Betadin, xanh methylene, thuốc mỡ acyclovir...

– Trường hợp người bệnh thủy đậu bị sốt cao thì sử dụng thuốc hạ sốt paracetamol, acetaminophen nhưng không được sử dụng chế phẩm aspirin.

– Người bệnh thủy đậu cần được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng để nâng cao hệ thống miễn dịch, thức ăn mềm, dễ tiêu, nước hoa quả.

Người bệnh thủy đậu được điều trị như thế nào?

Người bệnh thủy đậu được điều trị như thế nào?

5 Dự phòng thủy đậu bằng cách nào?

Hiện nay, bệnh thủy đậu được dự phòng bằng cách tiêm phòng vaccin thủy đậu, đây là loại accin sống giảm độc lực. Phương pháp này được dùng cho các bé trên 1 tuổi đến 12 tuổi chưa mắc thủy đậu và người lớn chưa có miễn dịch với Herpes zoster. Vaccin thủy đậu được tiêm phòng theo chương trình tiêm chủng mở rông, tuy nhiên, không tiêm cho người suy giảm miễn dịch nặng.

Hoặc tiêm huyết thanh kháng thủy đậu dành cho đối tượng có nguy cơ bị biến chứng nặng trong 72 giờ kể từ khi tiếp xúc với nguồn bệnh.

Ngoài ra, chúng ta không nên tiếp xúc với người thủy đậu, zona, đồng thời phải giữ gìn vệ sinh cá nhân sạch sẽ.

Copy ghi nguồn TrungTamThuoc.com

Link bài viết:  Bệnh thủy đậu: phương thức lây lan, chẩn đoán, điều trị và dự phòng

6 Tài liệu tham khảo

Chickenpox(Varicella): ​https://www.medicinenet.com/chickenpox_varicella/article.htm#what_are_treatment_options_for_chickenpox 

Ngày đăng
Lượt xem: 1741

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0 Thích

Biến chứng của bệnh thuỷ đậu là gì?

Bởi: Việt Anh vào 09/11/2020 4:10:54 CH

Thích (0) Trả lời
Bệnh thủy đậu: Cách thức lây lan, chẩn đoán, điều trị và dự phòng 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá
Hủy
Bệnh thủy đậu: Cách thức lây lan, chẩn đoán, điều trị và dự phòng
HA
5 trong 5 phiếu bầu

Cảm ơn dược sĩ nhà thuốc đã tư vấn thông tin nhiệt tình cho mình.

Trả lời Cảm ơn (0)

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900888633