0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

[Cần biết] Điều trị và phòng ngừa bệnh sốt mò hiệu quả

[Cần biết] Điều trị và phòng ngừa bệnh sốt mò hiệu quả

, 5 phút đọc

, Cập nhật:
Xem:
2422

Trungtamthuoc.com - Thời gian ủ bệnh sau khi bị mò đốt kéo dài 6-20 ngày, trung bình là 10 - 12 ngày. Bệnh sốt mò khởi phát với triệu chứng đặc trưng là sốt, nhức đầu, đau cơ, ho và các triệu chứng tiêu hóa. Bệnh nhân thường xuất hiện tình trạng sốt không rõ nguồn gốc. Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng khác nhau, tùy thuộc vào mức độ nhạy cảm của người bệnh và độc lực của chủng vi khuẩn.

1 Sốt mò và nguyên nhân gây bệnh

Sốt mò là một bệnh do một loại vi khuẩn có tên là Orientia tsutsugamushi gây ra. Bệnh lây lan sang người qua vết cắn của bọ chét bị nhiễm bệnh. Các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm sốt, nhức đầu, đau nhức cơ thể và đôi khi phát ban. Hầu hết các trường hợp sốt phát ban xảy ra ở các vùng nông thôn của Đông Nam Á, Indonesia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và miền bắc Australia. [1]

Bệnh sốt mò được gây ra bởi một loại vi khuẩn có tên là Orientia tsutsugamushi, bệnh lây lan sang người thông qua vết cắn của con mò. Vi khuẩn này được tìm thấy trên khắp cơ thể của con mò nhưng có nhiều nhất nhất trong tuyến nước bọt. Khi con mò cắn động vật gặm nhấm (chuột, chuột chũi và chuột đồng) hoặc con người, ký sinh trùng được truyền đến vật chủ. Chỉ có ấu trùng Leptotrombidium truyền bệnh sốt mò.

Lây truyền bệnh sốt mò xảy ra quanh năm ở vùng nhiệt đới, và thường lây truyền theo mùa ở vùng ôn đới. Những người nghỉ ngơi trực tiếp trên cỏ, mặc quần áo ngắn, làm việc bằng tay trần và ngồi xổm để đi đại tiện hoặc đi tiểu có nguy cơ cao nhất.

Bệnh sốt mò là gì? Nguyên nhân do đâu?

Bệnh sốt mò kéo dài từ 14 đến 21 ngày mà không cần điều trị. Nhiễm trùng nặng có thể phức tạp bởi viêm phổi kẽ, phù phổi, suy tim sung huyết, trụy tuần hoàn và một loạt các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn chức năng hệ thần kinh trung ương, bao gồm mê sảng, lú lẫn và co giật. Tử vong có thể xảy ra do những biến chứng này, thường vào cuối tuần thứ hai của bệnh. [2]

2 Cơ chế bệnh sinh

O. tsutsugamushi xâm nhập các tế bào nội mô để tạo ra các tổn thương viêm quanh mạch và mạch lan tỏa, dẫn đến rò rỉ mạch máu đáng kể và dẫn đến tổn thương nội tạng của các cơ quan khác nhau như phổi, tim và thận. 

Nó gây ra sự hình thành một số cytokine như yếu tố kích thích tế bào hạt-thuộc địa (CSF), đại thực bào-CSF, Interferon γ và yếu tố hoại tử khối u-α. Tế bào lympho T gây độc tế bào và tế bào T NK đóng vai trò quan trọng trong việc tiêu diệt các tế bào chủ bị nhiễm bệnh.

Vi khuẩn này điều chỉnh cơ chế bảo vệ vật chủ bằng cách điều chỉnh giảm GP-96 trên đại thực bào và tế bào nội mô, đóng vai trò chính trong việc trình bày kháng nguyên, hoạt động của tế bào đuôi gai, sản xuất kháng thể và tạo mồi chéo của hệ thống miễn dịch.

Phản ứng miễn dịch chống lại O. tsutsugamushi là cả thể dịch và tế bào. Miễn dịch dịch thể liên quan đến việc sản xuất các kháng thể đặc hiệu chống lại sinh vật có thể làm giảm khả năng xâm nhập vào tế bào của sinh vật bằng cách thay đổi các điểm hấp dẫn không đặc hiệu giữa các tác nhân lây nhiễm và tế bào đích. 

Tế bào lympho T tham gia vào quá trình miễn dịch qua trung gian tế bào chống lại Orientia , tạo ra interferon γ bởi các tế bào đơn nhân trong máu ngoại vi. [3] 

3 Chẩn đoán sốt mò như thế nào?

3.1 Triệu chứng lâm sàng

Thời gian ủ bệnh sau khi bị mò đốt kéo dài 6-20 ngày, trung bình là 10 - 12 ngày.

Sau đó bệnh khởi phát với triệu chứng đặc trưng là sốt, nhức đầu, đau cơ, ho và các triệu chứng tiêu hóa. Bệnh nhân thường xuất hiện tình trạng sốt không rõ nguồn gốc. Mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng khác nhau, tùy thuộc vào mức độ nhạy cảm của người bệnh và độc lực của chủng vi khuẩn.

Dấu hiệu đầu tiên của bệnh sốt phát ban ở bệnh nhân là có mụn nước ở vị trí mò cắn, sau này tiến triển loét hoại tử hoặc loét với bệnh hạch bạch huyết. Một vết loét thường xuất hiện với trung tâm hoại tử đen và đường viền hồng ban và thường thấy ở háng, nách, bộ phận sinh dục và cổ.

Sốt là triệu chứng phổ biến nhất, khởi đầu đột ngột kèm theo một số triệu chứng: Đau đầu dữ dội, buồn ngủ, xung huyết kết mạc mắt, thờ ơ, đau ở các cơ và các cơ khác, và đặc biệt hơn là nổi hạch và gan lách.

Thường trong tuần đầu tiên người bệnh có vết phát ban hoàng điểm bắt đầu từ thân và lan dần ra các chi. Đến sang tuần thứ 2, người bệnh bắt đầu có triệu chứng toàn thân liên quan đến thần kinh trung ương, tim mạch, thận, hô hấp, tiêu hóa.

Ngoài ra, có khoảng 40 - 97% người bệnh có tình trạng viêm hạch bạch huyết khu trú hay toàn thân.

Bệnh sốt mò nếu không được điều trị đúng và kịp thời có thể gây ra các biến chứng như:  Viêm cơ tim, viêm phổi, viêm màng não, suy thận cấp và xuất huyết tiêu hóa, điếc, khó tiêu và khó nuốt.

3.2 Các triệu chứng cận lâm sàng

Công thức máu ở người bệnh sốt mò để tìm kháng thể IgM, IgG.

X quang phổi có thể cho thấy viêm phổi, đặc biệt là ở các vùng đáy phổi.

Chức năng gan ở những người bệnh này cho thấy nồng độ transaminase tăng cao có thể xuất hiện ở 75-95%. Đồng thời, hạ đường huyết xảy ra trong khoảng 50% trường hợp, và hiếm khi có tăng bilirubin máu.

Ngoài ra, còn làm một số xét nghiệm như ELISA, IFA, IIP trong chẩn đoán cho người bệnh nghi ngờ sốt mò.

Làm sao để chẩn đoán sốt mò?

Cần phân biệt sốt mò với một số bệnh bao gồm: Sốt không rõ nguồn gốc, sốt thương hàn, sốt xuất huyết, sốt rét và các bệnh rickettsioses khác. Hoặc phân biệt với bệnh sốt thỏ, bệnh than, sốt xuất huyết, bệnh leptospirosis, sốt xuất huyết và bệnh bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng.

4 Điều trị bệnh sốt mò như thế nào?

4.1 Điều trị kháng sinh

Tetracycline hoặc Chloramphenicol vẫn là phương pháp điều trị chính ở những bệnh nhân nghi ngờ mắc bệnh sốt mò.

Phác đồ điều trị được đề nghị cho bệnh sốt mò là:

Doxycycline liều 2,2 mg/kg/ngày đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch, tối đa 200 mg/ngày trong 7 - 15 ngày.

Và tetracycline với liều 25 mg/kg ngày chia cho mỗi 6 giờ trong ngày theo đường uống, tối đa 2 g/ngày điều trị trong 7-15 ngày.

Đối với điều trị dự phòng, người bệnh có thể sử dụng liều duy nhất 200 mg/tuần doxycycline.

Hoặc thay thế bằng chloramphenicol liều 50 -100 mg/kg/ngày tĩnh mạch chia 4 lần, tối đa 3 g/24 giờ hoặc 500 mg đường uống, từ 7 - 15 ngày với người lớn. Nếu được sử dụng, cần theo dõi chloramphenicol để duy trì nồng độ trong huyết thanh 10-30 g/mL. Điều trị nên được duy trì trong tối thiểu 5 ngày và cho đến khi bệnh nhân hết sốt ít nhất 3 - 4  ngày để tránh tái phát. Cloramphenicol tốt nhất không nên dùng cho người bệnh đang trong thai kỳ và nên giảm liều khi bị suy gan.

Các loại kháng sinh khác được tìm thấy là có hiệu quả trong điều trị sốt mò là: Azithromycin 500 mg/ngày uống trong 3 ngày, rifampicin và roxithromycin. Rifampicin đã được chứng minh là vượt trội so với Doxycycline trong một số nghiên cứu điều trị cho người sốt mò. Roxithromycin dùng với liều 150 mg, hai lần một ngày có hiệu quả tương tự như doxycycline hoặc chloramphenicol.

Cần làm gì để điều trị và dự phòng sốt mò xảy ra

4.2 Chăm sóc bệnh nhân sốt mò

Do người bệnh sốt mò có biểu hiện thân nhiệt tăng cao nên cần hạ sốt bằng paracetamol hoặc chườm mát.

Do người bệnh sốt mò có thân nhiệt cao và kém ăn nên cần bồi phụ dịch bằng oresol hoặc natri chlorid 0,9%, Ringer lactat, Glucose 5%.

Ngoài ra, do sốt mò có thể biến chứng suy hô hấp, thần kinh, tim mạch, tuần hoàn và suy thận nên cần được điều trị phù hợp theo hướng dẫn.

5 Phương pháp dự phòng bệnh sốt mò

Khả năng miễn dịch dường như chỉ tồn tại trong thời gian ngắn và mang tính đặc hiệu, vì vậy nhiễm sốt phát ban dạng hạt trước đây không tạo ra khả năng chống lại nhiễm trùng trong tương lai. [4]

Để tránh bị sốt mò, đặc biệt ở các khu vực đang lưu hành bệnh, người dân cần tuân thủ các biện pháp sau:

Mặc quần áo bảo hộ, quần áo dài tay để tránh mò có thể xâm nhập lên da.

Sau khi điều trị dự phòng, người bệnh cần được ngâm tẩm quần áo bằng hóa chất diệt khuẩn như Permethrin và benzyl benzoate và bôi Diethyltoluamide lên bề mặt da.

Loại bỏ mò bằng cách phun hydrocarbon clo hóa như lindane, dieldrin và chlordane lên mặt đất và thảm thực vật trong các trại và các khu vực đông dân cư khác nơi có bệnh.

Những người làm việc trong khu vực bị nhiễm khuẩn nên cần nhắc ngâm tẩm quần áo bằng permethrin. Khi ngồi xung quanh hoặc cắm trại, nên sử dụng phương tiện lều có sàn kín, vệ sinh cá nhân sạch sẽ.

Trên đây là các thông tin cơ bản về bệnh sốt mò, hy vọng hữu ích với bạn đọc để phòng chống và điều trị hiệu quả.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Tác giả: Chuyên gia của CDC, Scrub Typhus, CDC. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2021
  2. ^ Tác giả: Daniel J Sexton, MD, Scrub typhus: Treatment and prevention, Uptodate. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2021
  3. ^ Tác giả: Sayantani Chakraborty and Nilendu Sarma, Scrub Typhus: An Emerging Threat, NCBI. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2021
  4. ^ Tác giả: Catriona Wootton, Scrub typhus, Dermnet NZ. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2021
Ngày đăng

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
  • 0 Thích

    Biến chứng bệnh sốt mò?


    Thích (0) Trả lời
(Quy định duyệt bình luận)
[Cần biết] Điều trị và phòng ngừa bệnh sốt mò hiệu quả 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
  • [Cần biết] Điều trị và phòng ngừa bệnh sốt mò hiệu quả
    NH
    Điểm đánh giá: 5/5

    Cảm ơn dược sĩ nhà thuốc đã tư vấn thông tin nhiệt tình cho mình.

    Trả lời Cảm ơn (0)
logo
Nhà thuốc uy tín số 1 Nhà thuốc
uy tín số 1
Cam kết 100% chính hãng Cam kết 100%
chính hãng
Dược sĩ giỏi tư vấn miễn phí Dược sĩ giỏi tư
vấn miễn phí
Giao hàng toàn quốc Giao hàng
toàn quốc
Gửi
vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633