0 GIỎ HÀNG
CỦA BẠN
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Bệnh phong: nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị

Bệnh phong: nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị

, 5 phút đọc

, Cập nhật:
Xem:
2095

Trungtamthuoc.com - Bệnh phong từng được lo sợ như một căn bệnh rất dễ lây lan và có sức tàn phá khủng khiếp, nhưng giờ đây chúng ta biết rằng nó không dễ lây lan và việc điều trị rất hiệu quả. Tuy nhiên, nếu không được điều trị, tổn thương dây thần kinh có thể làm tê liệt bàn tay và bàn chân, liệt và mù lòa. [1]

1 Bệnh phong là gì?

Bệnh phong còn được gọi là bệnh Hansen, theo tên một nhà khoa học đã phát hiện ra M. leprae vào năm 1873. [2]. Bệnh phong là bệnh mạn tính truyền nhiễm, gây ra bởi Mycobacterium leprae - trực khuẩn nội bào. Trực khuẩn có thể lây truyền qua các giọt nhỏ, từ mũi và miệng, khi tiếp xúc gần và thường xuyên với những trường hợp không được điều trị.

Bệnh phong gây ra bởi vi khuẩn Mycobacterium leprae

Bệnh ảnh hưởng chủ yếu đến da, dây thần kinh và màng nhầy. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến mắt, mũi, khớp, hạch bạch huyết, các cơ quan nội tạng và tủy xương, đặc biệt là ở bệnh nhân đa xương. 

Trung bình, thời gian ủ bệnh là 5 năm nhưng các triệu chứng có thể xuất hiện trong vòng 1 năm. Nó cũng có thể mất đến 20 năm hoặc thậm chí hơn để xảy ra.Bệnh phong có thể chữa khỏi và điều trị trong giai đoạn đầu có thể ngăn ngừa tàn tật bằng liệu pháp đa thuốc (MDT). Nếu không được điều trị, nó có thể gây tổn thương da, dây thần kinh, tay chân và mắt tiến triển và vĩnh viễn. [3]

2 Tại sao người ta mắc bệnh phong?

Các loại vi khuẩn Mycobacterium leprae gây ra bệnh phong. Đây là một loài trực khuẩn kháng cồn, kháng toan, là mầm bệnh chính ở người. 

Có 2 con đường để M-leprae giải phóng khỏi cơ thể người đó là da và niêm mạc mũi. Các trường hợp bệnh phong có lượng lớn trực khuẩn phong nằm sâu trong lớp hạ bì, có thể tìm thấy trong lớp biểu mô da bị bong ra. M-leprae cũng được tìm thấy trong lớp keratin ngoài da người bị phong củ, như vậy trực khuẩn phong thoát ra cùng với dịch tiết bã nhờn. Số lượng trực khuẩn từ tổn thương niêm mạc mũi trong bệnh phong cùi dao động từ 10000 đến 10000000. 

Người ta không biết chính xác bệnh Hansen lây lan giữa người với người như thế nào. Các nhà khoa học hiện cho rằng nó có thể xảy ra khi một người mắc bệnh Hansen ho hoặc hắt hơi, và một người khỏe mạnh hít phải những giọt có chứa vi khuẩn. Cần tiếp xúc lâu dài, gần gũi với người bị bệnh phong không được điều trị trong nhiều tháng  để mắc bệnh.

Bạn không thể mắc bệnh phong khi tiếp xúc bình thường với một người mắc bệnh Hansen như:

  • Bắt tay hoặc ôm
  • Ngồi cạnh nhau trên xe buýt
  • Ngồi cùng nhau trong bữa ăn

Bệnh cũng không truyền từ mẹ sang thai nhi trong thời kỳ mang thai và cũng không lây qua đường tình dục.

Do đặc tính vi khuẩn phát triển chậm và thời gian phát triển các dấu hiệu của bệnh rất lâu nên chúng ta thường rất khó tìm ra nguồn lây bệnh. [4]

Nhãn

Những người sống ở nơi người mắc bệnh, có điều kiện tồi tệ làm ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch có nguy cơ cao bị nhiễm M-leprae như: Giường ngủ không đầy đủ, nước bị ô nhiễm và chế độ ăn uống thiếu thốn hoặc các bệnh khác. Có một số trường hợp đồng nhiễm HIV có thể làm trầm trọng thêm cơ chế bệnh sinh tổn thương của người bệnh phong. Hoặc những trường hợp người bệnh lao cũng bị tăng tính nhạy cảm với bệnh phong hơn.

3 Làm sao để chẩn đoán bệnh phong?

Đo thời gian ủ bệnh trong bệnh phong là khó khăn vì không có miễn dịch đầy đủ và bệnh khởi phát chậm. Thời gian ủ bệnh có thể kéo dài từ vài tuần đến vài năm, thậm chí là vài chục năm.

Các loại bệnh phong:

Bệnh phong thể bất định (IL) được đặc trưng bởi các tổn thương giảm sắc tố, với các đường viền không xác định với da bình thường. Số lượng tổn thương là khác nhau và phụ thuộc vào đáp ứng miễn dịch tế bào của bệnh nhân. Trong phần lớn các trường hợp, người bệnh có sự thay đổi về nhận thức nhiệt độ. Khi có sự xuất hiện của ban đỏ, thâm nhiễm hay cảm giác đau cho thấy sự tiến hóa sang các hình thức lâm sàng khác. Trong IL, không có dây thần kinh ngoại biên dày lên. Số lượng tổn thương càng nhiều, tiên lượng sẽ càng tệ nếu không có phương pháp điều trị thích hợp.

Bệnh phong củ (TL) thường xuất hiện với một số lượng nhỏ các tổn thương. Có thể quan sát thấy ở những bệnh nhân này có tổn thương tê liệt giảm sắc tố hoặc giảm hồng cầu. Các tổn thương giống như nấm da, với các đường viền được xác định rõ với da bình thường, là biểu hiện lâm sàng điển hình của TL. Phần trung tâm của những tổn thương này có thể bị teo, tùy thuộc vào thời gian bệnh. Ở những vết thương cũ có thể có hiện tượng rụng tóc cục bộ. Và ở hầu hết các trường hợp người bệnh phong này đều thay đổi cảm giác về nhiệt độ, đau và cảm giác chạm. Người bệnh thường có ảnh hưởng đến một số lượng nhỏ thân thần kinh, một số trường hợp chấn thương thần kinh rất nghiêm trọng.

Bệnh phong u, cục (LL) thường đặc trưng bởi các hạt vảy hơi hồng ban-giảm sắc tố ở giai đoạn đầu. Các cạnh có thể dần dần trở nên không rõ ràng với da bình thường, tăng kích thước và kết hợp lại, hình thành phù nề lớn. Các dát và nốt sần có thể xuất hiện trên các khu vực phù nề. Rụng lông mi, chứng khô, phù của tứ chi và tím tái ở gan bàn tay, bàn chân có thể thấy ở một số bệnh nhân. Những biểu hiện này đa phần là song phương và đối xứng. Sự dày lên của các dây thần kinh ngoại biên với sự mất cảm giác hai bên và các bất thường ở mắt cũng rất phổ biến ở những bệnh nhân này. Loét da, loét thực quản do mất xương, các biểu hiện nghiêm trọng về mắt và toàn thân có thể xảy ra ở bệnh nhân LL khi không điều trị thích hợp.

Bệnh phong được chẩn đoán căn cứ vào các triệu chứng lâm sàng.

Nhóm bệnh phong thể trung gian (BL) là trường hợp phổ biến nhất. Ở tất cả các bệnh nhân BL, sự ảnh hưởng đến các dây thần kinh ngoại biên là phổ biến. Nếu không được điều trị và chăm sóc thích hợp, sẽ có nguy cơ bị tổn thương thần kinh nghiêm trọng và mất chức năng.

Chẩn đoán bệnh phong trong hầu hết các trường hợp, ngoài căn cứ vào lâm sàng - dịch tễ học, chủ yếu dựa vào khám da liễu và thần kinh. Người bệnh được kiểm tra nhiệt độ, đau và cảm giác chạm.

Ngoài ra, bệnh nhân nghi ngờ bị phòng cần phải thực hiện nội soi trực khuẩn, và phải có sẵn các xét nghiệm sau: Xét nghiệm histamine, xét nghiệm pilocarpin, mô bệnh học, huyết thanh kháng PGL-1 và phản ứng chuỗi polymerase (PCR). Chụp điện cơ, siêu âm hoặc cộng hưởng từ của thân thần kinh có thể hữu ích trong chẩn đoán các dạng thần kinh.

4 Bệnh phong được điều trị như thế nào?

Theo khuyến cáo của tổ chức y tế Thế giới, điều trị bệnh phong hiện nay, áp dụng phác đồ đa hóa trị liệu dùng các thuốc: Rifampicin, Clofazimin, Dapson(DDS).

4.1 Phác đồ điều trị bệnh phong người lớn

Dapsone (diaminodiphenyl sulfone - DDS), chủ yếu có tác dụng kìm khuẩn, với hoạt tính diệt khuẩn thấp. Thuốc hoạt động như chất đối kháng của axit para-aminobenzoic (PABA), ngăn chặn quá trình tổng hợp axit folic của M-leprae.

Rifampicin (RMP), một dẫn xuất bán tổng hợp của Rifamycin B, có tác dụng diệt khuẩn là chủ yếu. Thuốc có vai trò ức chế enzyme RNA-polymerase trong trực khuẩn nhân lên.

Clofazimine (CLF) là chất thuộc IIminophenazine, có tác dụng diệt khuẩn M-leprae nhẹ, hoạt động chậm, tiêu diệt 99% vi khuẩn trong khoảng 5 tháng. Hiệu quả của Clofazimine tương tự như DDS.

Người bệnh phong nhiễm ít vi khuẩn (PB) điều trị bằng bao gồm: Dapsone - 100 mg/ngày và rifampicin - 600 mg, mỗi tháng một lần với liều được giám sát trong sáu tháng.

Đối với người bệnh nhiễm nhiều vi khuẩn phong, ngoài dùng thuốc như tên còn phối hợp thêm như sau: Clofazimine - 100 mg/ngày và 300mg/tháng với thời gian 12 tháng hoặc cho đến khi nội soi trực khuẩn âm tính. Đối với người trưởng thành có cân nặng dưới 35kg, điều chỉnh Rifampicin là 450 mg/tháng và Dapsone 50 mg (tương đương 1 - 2 mg/kg /ngày). Liều Cofazimine thay đổi, 50 -100 mg/ngày.

Bệnh phong được điều trị như thế nào?

4.2 Phác đồ điều trị bệnh phong trẻ em

Đối với trẻ em, các thuốc và thời gian điều trị cho từng thể bệnh tương tự như người lớn nhưng có sự điều chỉnh liều khác.

Với các bé từ 5 tuổi trở xuống, thuốc dùng được điều chỉnh như sau: Dapsone 25 mg/ngày, rifampicin 150 -300 mg/tháng, clofazimine 100 mg tháng và 100 mg/tuần.

Các bé bị phong từ 6 đến 14 tuổi, sử dụng thuốc với liều được thay đổi như sau: Dapsone 50 - 100 mg/ngày, Rifampicin 300 - 450 mg/tháng và Clofazimine 150mg tuần và 150 - 200 mg/tháng.

5 Làm sao để ngăn ngừa bệnh phong?

Cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh phong là tránh tiếp xúc lâu dài, gần gũi với người không được điều trị bị nhiễm trùng.

Đồng thời, những người tiếp xúc với người bệnh phong cần được thăm khám định kỳ để phát hiện và điều trị kịp thời nếu có.

Trên đây là các thông tin cơ bản về bệnh phong, hy vọng giúp bạn đọc nhận biết, điều trị và ngăn ngừa bệnh hiệu quả.

Tài liệu tham khảo

  1. ^ Tác giả: Chuyên gia của CDC, Hansen's Disease (Leprosy), cdc.gov. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021
  2. ^ Tác giả:Kelli Miller, Leprosy, WebMD. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021
  3. ^ Tác giả: Chuyên gia của WHO. ngày đăng: 10 tháng 5 năm 2021, Leprosy (Hansen's disease), who.int. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021
  4. ^ Tác giả: Chuyên gia của CDC, Hansen's Disease (Leprosy), cdc.gov. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2021
Ngày đăng

* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
  • 0 Thích

    Triệu chứng bệnh phong như nào?


    Thích (0) Trả lời
(Quy định duyệt bình luận)
Bệnh phong: nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị 5/ 5 1
5
100%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét
Đánh giá và nhận xét
  • Bệnh phong: nguyên nhân, chẩn đoán và cách điều trị
    HL
    Điểm đánh giá: 5/5

    Cảm ơn dược sĩ nhà thuốc đã tư vấn thông tin nhiệt tình cho mình.

    Trả lời Cảm ơn (0)
logo
Nhà thuốc uy tín số 1 Nhà thuốc
uy tín số 1
Cam kết 100% chính hãng Cam kết 100%
chính hãng
Dược sĩ giỏi tư vấn miễn phí Dược sĩ giỏi tư
vấn miễn phí
Giao hàng toàn quốc Giao hàng
toàn quốc
Gửi
vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......

1900 888 633