0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

Bệnh nấm da do Dermatophytes: triệu chứng và điều trị

Lượt xem: 2516Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/benh-nam-da-do-dermatophyte 14/07/2020 11:57:18 SA
TrungTamThuoc

Nấm da là một bệnh da liễu thường gặp ở các nước nhiệt đới nóng ẩm. Hôm nay Trung Tâm Thuốc sẽ cùng bạn tìm hiểu về bệnh da gây ra bởi chủng nấm Dermatophytes (nấm tơ sợi).

1 Đặc điểm bệnh nấm da

Bệnh nấm da do Dermatophytes là bệnh viêm nhiễm ngoài da, gây ra bởi một nhóm nấm ưa chất keratin. Chất keratin này chính là lớp sừng cấu tạo nên da, lông, tóc, móng. Nấm da chỉ gây bệnh ở ngoài da chứ không ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng. Mức độ nghiêm trọng của bệnh tùy thuộc vào đáp ứng của vật chủ với loại nấm nhiễm và độc tính của nấm. Bệnh nấm da tuy không ảnh hưởng đến tính mạng của con người, nhưng nó mang lại cảm giác khó chịu, ngứa ngáy cho người bệnh.

Bệnh nấm da

Bệnh nấm da

Nguyên nhân gây bệnh nấm da

Nấm da do chủng Dermatophytes gồm các chi điển hình sau.

Microsporum có 1 loài: thường gây bệnh ở da và tóc.

Trichophyton có 23 loài: gây bệnh ở da và móng.

Epidermophyton 18 loài: gây bệnh ở cả da, tóc, móng.

Các chủng Dermatophytes.

Các chủng Dermatophytes.

Nấm này có đặc điểm chỉ có thể sống và lây nhiễm ở những nơi có mặt keratin (lớp sừng). Nó không gây bệnh ở các vị trí niêm mạc.

Bệnh nấm do dermatophytes đặc trưng theo đối tượng độ tuổi, nơi ở, có sự khác nhau giữa nam và nữ. Thông thường bệnh này có tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn nữ - nấm vùng da đầu chênh lệch tỉ lệ 3:1. Sự lây nhiễm bệnh do tiếp xúc với các vảy da có mang bào tử nấm từ người bệnh, đặc biệt trong môi trường sống tập thể thiếu vệ sinh và khí hậu nóng ẩm.

Điều kiện thuận lợi để bệnh phát triển và lây nhiễm.

  • Do tiếp xúc trực tiếp với người động vật bị nhiễm bệnh.
  • Do sức đề kháng yếu, người bị suy giảm miễn dịch bởi bệnh như HIV, lao...
  • Môi trường sống ẩm thấp, mất vệ sinh.
  • Da bị tổn thương dễ lây nhiễm khi tiếp xúc với nguồn bệnh .
  • Môi trường đông người làm lây lan từ người này qua người khác.
  • Tái phát do lượng vi nấm nhiễm lớn hơn và thời gian ngắn hơn.
  • Dùng chung vật dụng cá nhân với những người bị nhiễm nấm.

2 Triệu chứng lâm sàng bệnh nấm da

Bệnh da do nấm Dermatophytes chia làm các thể sau:

  • Nấm da vùng thân.

Dạng mảng tròn cổ điển: trên vùng da bị nấm là các mảng tròn với mụn nước tróc vảy. Bờ nổi gồ lan dần theo hướng ly tâm, dần dần có thể có các mẩn đỏ hoặc mụn nước. Vùng trung tâm chuyển màu nâu hoặc giảm sắc tố và ít vảy. Tổn thương có thể lan rộng, ngứa ít hoặc không triệu chứng.

Dạng tổn thương viêm sâu: tổn thương hình tròn, bộc phát dữ dội với bề mặt gồ lên và có mụn mủ, lầy, đỏ. Có thể kèm mụn mủ nang lông do sự xâm nhập của nấm vào sâu. Thường có bội nhiễm vi khuẩn, thường do tụ cầu vàng. Khi lành có tăng sắc tố màu nâu hoặc để sẹo.

  • Nấm bẹn (Tinea Cruris).

Tổn thương thường bắt đầu với một vùng da đỏ ở nếp nhăn ở háng. Nó thường lan đến đùi bên trong hình dạng nửa mặt trăng. Phát ban có thể có hình vòng và viền với một đường mụn nước nhỏ. Các mụn có thể phồng lên, màu đỏ nâu bệnh nhân cảm thấy ngứa, da có thể bị bong hoặc có vảy. Tổn thương thường có tính chất đối xứng.

  • Nấm da bàn tay (Tinea Manuum).

hình ảnh nấm da bàn tay

Hình ảnh nấm da bàn tay.

Bệnh âm thầm và tiến triển chậm trong thời gian nhiều tháng, nhiều năm. Bệnh dễ bị bỏ qua do nhầm lẫn với các biểu hiện như da khô tróc vảy.

Ban đầu có thể ngứa nhẹ ở một vị trí của tay, hoặc có thể ngứa vừa và khó chịu hơn. Sau đó một đường viền nổi lên màu đỏ với một mảng da trông giống như chiếc nhẫn. Mảng da khô, bong tróc hoặc có vảy và lan rộng dần. Triệu chứng này là phổ biến nhất khi bệnh nấm da do Dermatophytes gây ra. Mụn nước nhỏ có thể xuất hiện ở hai bên ngón tay hoặc trên lòng bàn tay chứa chất lỏng dính, trong suốt. Phát ban có thể nhẹ đến ngứa vừa phải. Nếu phát ban trong một thời gian dài, da có thể bị đổi màu. 

Nấm da mu bàn tay có viền xung quanh nhô cao, đỏ và có vảy. Nốt sẩn và mụn nước ở rìa và trung tâm.

Nấm da lòng bàn tay có cùng biểu hiện khô da, tăng sừng lan tỏa như nấm da lòng bàn chân. Thường gặp nhiễm nấm cả ở bàn tay và bàn chân.

Nấm móng có thể xuất hiện cùng nấm da bàn tay.

  • Nấm da bàn chân (Tinea Pedis).

Đốt tượng hay gặp là tuổi thanh niên và trung niên. Bệnh ở nam nhiều hơn nữ, hiếm thấy trước tuổi dậy thì. Khi mang giày đi tất bít kín chân tạo điều kiện cho nấm phát triển.

Nấm da bàn chân có ba dạng phổ biến.

Nấm kẽ ngón: vị trí gặp nhiều nhất là ở kẽ ngón chân 4-5. Da kẽ ngón có biểu hiện tróc vảy, khô, nứt nẻ. Hoặc có thể bị sưng mọng.

Nấm da tróc vảy mạn tính ở bàn chân: lòng bàn chân dày sừng. Lớp vảy mịn màu trắng bạc, da đỏ hồng. Có thể kèm ngứa và đau. Người bệnh có thể nhiễm đồng thời nấm da bàn tay và nấm da bàn chân.

Nấm da bàn chân cấp tính có mụn nước.

Tại lòng bàn chân và mu bàn chân, mụn nước phát triển nhanh.Chúng tập hợp thành bóng nước. Các bóng nước không vỡ do nằm dưới lớp da dày của lòng bàn chân. Trường hợp này hay xảy ra bội nhiễm vi khuẩn và nấm móng chân phối hợp.

  • Nấm vùng da đầu (Tinea Capitis).

Bệnh gặp ở trẻ em hoặc trẻ sơ sinh do tiếp xúc gần với người nhà bị bệnh.

Có 4  kiểu nấm da đầu:

Nấm da đầu dạng viêm da tiết bã: là dạng thường gặp nhất. Vảy nấm dính chặt ở da đầu. Các vảy có thể lan tỏa, loang lổ, mịn, trắng. Người bệnh thường có viêm hạch.

Nấm da đầu dạng viêm (Kerion): Vùng da tổn thương xuất hiện là một khu vực dày, ẩm ướt của da đầu. Bề mặt da đầu  thường có những vết sưng mủ. Sau đó là sự vỡ mủ và chảy mủ. Nếu không được điều trị, nấm da đầu dạng viêm có thể dẫn đến sẹo và rụng tóc vĩnh viễn. Sốt và đau có thể đi kèm. Ngoài ra, các hạch bạch huyết ở phía sau da đầu, sau tai hoặc dọc theo hai bên cổ có thể bị sưng.

Nấm da đầu dạng “chấm đen”. Tại vùng bị nấm tóc rụng thành mảng rộng, da không viêm. Da đầu tróc vảy ít hoặc trung bình, có thể có hạch chẩm. Sự xuất hiện các chấm đen là do các bào tử nhân đôi làm yếu và gãy tóc sát da đầu.

3 Cận lâm sàng của bệnh

Lấy mảng da vùng bị bệnh tìm nấm trực tiếp với dung dịch KOH.

Nếu xét nghiệm trực tiếp bằng KOH không xác định được thì dùng phương pháp cấy nấm.

4 Điều trị nấm da do Dermatophytes

Định hướng điều trị:

Bệnh nấm da do dermatophytes cần được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, tránh lây lan.

Tuân thủ phác đồ điều trị, đủ thời gian, đúng liều.

Áp dụng các biện pháp khử mầm bệnh trong các đồ dùng cá nhân, quần áo, chăn màn, dày dép vào cuối đợt điều trị. Áp dụng điều trị đồng loạt nếu trong tập thể sống chung có lây lan bệnh.

Không dùng các dạng kem bôi có thành phần phối hợp kháng nấm và corticosteroid. Vì các sản phẩm này có tác dụng trị liệu với bệnh rất kém và gây biến chứng teo da.

Thuốc kháng nấm.

Thuốc kháng nấm.

Các thuốc điều trị cụ thể:

  • Các nhóm thuốc kháng nấm dùng tại chỗ. 

Nhóm azol gồm ketoconazole, clotrimazolezoles, fluconazole, itraconazole...

Nhóm Allylamines: naftifine, terbinafine.

Nhóm Naphthionates: tolnaftate.

Nhóm Substituted pyridine: ciclopirox olamine.

Dùng bôi 2 lần/ngày trong tối thiểu hai tuần. Sau khi biểu hiện bệnh hết nên dùng thêm một tuần nữa.

  • Kháng Nấm Dùng Đường Toàn Thân:

Nấm bẹn.

  • Itraconazole: uống 200mg mỗi ngày. Thời gian điều trị từ 1-2 tuần.
  • Terbinafine dùng 250mg mỗi ngày trong 2 tuần liên tục.
  • Fluconazole dung 1 viên 150mg/ tuần. Thời gian điều trị từ 2-4 tuần.

Nấm da vùng thân và mặt.

  • Griseofulvin dùng liều 5-7mg/kg/ngày điều trị trong 2-6 tuần.
  • Itraconazole liều dùng 200mg mỗi ngày trong 2 tuần.
  • Fluconazole 150 mg. Dùng mỗi tuần một lần, thời gian điều trị trong 3 đến 4 tuần. Phối hợp kháng sinh đường uống khi có nhiễm khuẩn.
  • Dùng Prednisone liệu trình ngắn ngày trong trường hợp tổn thương nặng để hạn chế sẹo.

Nấm da bàn tay và bàn chân.

Sử dụng phối hợp cả dạng kháng nấm bôi và uống. Thuốc bôi dùng 2 lần mỗi ngày. Kết hợp Griseofulvin 250mg dùng 1-2 viên uống 2 lần mỗi ngày. Thời gian điều trị từ 3-6 tuần.

Trường hợp bệnh nhân không đáp ứng với griseofulvin thay thế bằng:

  • Itraconazole 100 mg. Dùng 200mg/lần x 1-2 lần/ngày. Thời gian điều trị 1-2 tuần.
  • Terbinafine dùng liều 250mg/ngày trong thời gian 2-4 tuần.
  • Fluconazole 150mg dùng 1 liều duy nhất mỗi tuần. Thời gian điều trị trong 2-4 tuần.

Điều trị cùng với nhiễm nấm móng phối hợp mất nhiều thời gian hơn. Trường hợp có bội nhiễm vi khuẩn cần phối hợp với kháng sinh.

Nấm vùng da đầu.

Điều trị bằng cả thuốc uống và bôi.

Griseofulvin liều 20-25 mg/kg/ngày (dung dịch tinh thể nhỏ) hoặc 15-20 mg/kg/ngày (viên nang tinh thể siêu nhỏ).  Chia làm 1-2 lần mỗi ngày ngày dùng trong 6-8 tuần. Điều trị thêm 2 tuần sau khi có kết quả âm tính với tìm nấm hoặc cấy nấm.

Griseofulvin là lựa chọn hàng đầu, trong một số trường hợp thì trẻ em không dùng được liều cao hoặc bệnh nhân không đáp ứng có thể thay thế bằng các thuốc sau.

  • Terbinafine: điều trị trong 4-6 tuần.

Cân nặng <25kg : dùng liều 125 mg/ngày.

Cân nặng 25-35 kg : dùng liều 187,5 mg/ngày.

Cân nặng  > 35kg : dùng liều 250mg/ngày.

  • Itraconazole 25-100mg/ngày (tương đương 2,5-5 mg/kg/ngày) x 6-8 tuần.
  • Fluconazole 6-8mg/kg/ngày x 6-8 tuần. Liều đơn 150mg mỗi tuần trong 4 tuần được áp dụng cho trẻ lớn hơn.
  • Prednisone liều dùng 1-2 mg/kg/ngày giúp đẩy nhanh sự phục hồi và ngăn việc tạo sẹo.

Gội bằng các dầu gội chứa thành phần kháng nấm làm giảm nguy cơ giải phóng bào tử nấm. Như vậy sẽ giảm nguy cơ mắc cho những người sống chung nhà.

5 Các biện pháp phòng ngừa nấm da do Dermatophytes

Các biện pháp phòng ngừa nhằm giúp bệnh nhân nhanh khỏi bệnh, tránh tái phát, tái nhiễm và lây lan cho người xung quanh.

Giữ vệ sinh cá nhân sạch sẽ, không mặc quần áo còn chưa khô hẳn còn ẩm, đặc biệt là đồ lót.

Khử mầm bệnh trong đồ dùng các nhân của người bệnh. Quần áo, giày dép, chăn gối,... giặt tẩy bằng xà phòng thuốc chống nấm.

Không dùng chung đồ với người bệnh.

Giữa nơi ở khô thoáng sạch sẽ, chống nấm mốc.


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......