0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THAI KỲ

Lượt xem: 1475Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/benh-dai-thao-duong-va-thai-ky-04 15/07/2020 4:52:45 CH
TrungTamThuoc

Phụ nữ bị đái tháo đường thai kỳ có thể khiến thai nhi phát triển lớn hơn bình thường, gây ra những khó khăn sinh nở, tăng nguy cơ bị sinh mổ, hoặc sinh non. Vậy cần làm gì khi mẹ bị đái tháo đường thai kỳ?

1 Bệnh đái tháo đường thai kỳ và yếu tố nguy cơ

Bệnh đái tháo đường thai kỳ là sự không dung nạp glucose ở các mức độ khác nhau, bệnh khởi phát hoặc nhận biết lần đầu tiên trong thai kỳ. Ở trẻ sơ sinh mà có mẹ bị đái tháo đường từ trước sẽ có nguy cơ tổn thương nghiêm trong gấp đôi khi sinh và tăng 3 lần nguy cơ sinh mổ.  Bệnh đái tháo đường thai kỳ có đến 90% các trường hợp là phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ, và khoảng 8% là người mẹ bị bệnh tiểu đường loại 2 từ trước.

Bất kỳ phụ nữ nào cũng có nguy cơ bị tiểu đường thai kỳ khi mang thai, tuy nhiên nguy cơ này tăng cao khi:

  • Người mẹ có chỉ số khối của cơ thể BMI từ 30 trở lên.
  • Lần mang thai trước người mẹ cũng bị tiểu đường thai kỳ, hoặc đã sinh em bé nặng từ 4,5kg trở lên khi sinh.
  • Gia đình của bố mẹ, anh chị em có người bị tiểu đường.
  • người gốc Nam Á, da den, người gốc Phi, Trung Đông cũng có nguy cơ tiểu đường thai kỳ cao hơn.

Đối tượng nào có nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ.

Đối tượng nào có nguy cơ bị đái tháo đường thai kỳ.

2 Triệu chứng của tiểu đường thai kỳ

Bệnh tiểu đường thai kỳ gần như không có triệu chứng. Hầu hết các trường hợp bệnh được phát hiện khi lượng đường trong máu được kiểm tra trong quá trình sàng lọc tiểu đường thai kỳ.

Ở một số phụ nữ có thể xuất hiện triệu chứng nếu đường máu tăng quá cao như: tăng khát nước, thường xuyên buồn đi tiểu, khô miêng, mệt mỏi.

Tuy nhiên các triệu chứng trên lại khá phổ biến khi mang thai, do đó cũng không phải cứ có các triệu chứng như trên là người mẹ bị tiểu đường thai kỳ.

3 Người bệnh bị tiểu đường thai kỳ có thể có những ảnh hưởng gì?

Phụ nữ bị tiểu đường thai kỳ có thể gây ra các vấn đề như:

  • Thai nhi sẽ phát triển lớn hơn bình thường, có thể gây ra những khó khăn trong quá trình sinh nở, tăng nguy cơ bị sinh mổ.
  • Người mẹ có thể có quá nhiều nước ối, gây chuyển dạ sớm hay gặp vấn đề khi sinh.
  • Có thể bị sinh non trước tuần thứ 37 của thai kỳ.
  • Tiền sản giật, tình trạng gây tăng huyết áp khi mang thai và có thể dẫn đến biến chứng của thai kỳ nếu không được điều trị.
  • Trẻ sinh ra có thể bị hạ đường huyết, vàng da, vàng mắt sau sinh cần nhập viện điều trị.
  • Đặc biệt, một số ít trường hợp có thể gây thai chết lưu, dị tật thai nhi, trẻ sơ sơ sinh bị thiếu surfactant ở phế nang.

Thông thường, các biến chứng xảy ra khi đường huyết trong thai kỳ không ổn định hoặc người mẹ có biến chứng trước khi mang thai.

4 Điều trị đái tháo đường khi mang thai

Mục tiêu điều trị và kiểm soát đường huyết khi mang thai là duy trì glucose huyết toàn phần lúc đói từ 3,33 đến 5,0mmol/L, glucose máu 1 giờ sau ăn dưới 7,8mmol/L và dưới 6,7mmo/L ở thời điểm 2 giờ sau khi ăn.

Phụ nữ mang thai có thể điều chỉnh và duy trì đường huyết ổn định bằng cách ăn uống và luyện tập đúng cách.

4.1 Dinh dưỡng điều trị đái tháo đường thai kỳ

Số calo đưa vào cơ thể mỗi ngày của người bệnh đái tháo đường thai kỳ được tính dựa vào cân nặng của người bệnh như sau:

  • Nếu người mẹ đã có cân nặng lý tưởng rồi thì năng lượng cần cung cấp cho mỗi ngày 30 Kcalo/kg.
  • Nếu phụ nữ mang thai có cân nặng chỉ bằng 80% cân nặng lý tưởng hoặc thấp hơn thì mỗi ngày cần đưa vào cơ thể 40 Kcalo/kg.
  • Những mẹ có nặng cân vượt mức lý tưởng từ 120% đến 150% thì hàng ngày cần 25 Kcalo/kg, và khoảng 12 Kcalo/kg cân nặng mỗi ngày nếu người mẹ thừa cân, có cân nặng trên 150% cân nặng lý tưởng.

Dinh dưỡng cho người tiểu đường thai kỳ.

Dinh dưỡng cho người tiểu đường thai kỳ.

Trong thời gian, người mẹ cần lưu ý và kiểm soát sự tăng cân của cơ thể trong thai kỳ như sau: trong 3 tháng đầu tiên cần tăng từ 1 đến 2 kg, sang 3 tháng tiếp theo tăng 4 đến 5kg và 3 tháng cuối thai kỳ sẽ tăng từ 5 đến 6kg.

Mục tiêu của liệu pháp dinh dưỡng của đái tháo đường thai kỳ là tránh những bữa ăn lớn và thực phẩm có hàm lượng carbohydrate đơn giản cao. Mỗi ngày người mẹ nên chia nhỏ bữa ăn ra thành 6 lần gồm 3 bữa ăn chính và 3 bữa ăn nhẹ. Như vậy sẽ giúp hạn chế lượng năng lượng nạp vào máu không quá nhiều ở bất kỳ thời gian nào.

Chế độ ăn uống nên bao gồm các loại thực phẩm có carbohydrate và cellulose phức tạp, chẳng hạn như bánh mì ngũ cốc nguyên hạt và các loại đậu. Carbonhydrate nên chiếm không quá 50% khẩu phần, với protein và chất béo chiếm phần còn lại, có thể hạn chế vừa phải carbohydrate còn 35 - 40%. Như vậy, sẽ làm giảm mức glucose của mẹ và cải thiện kết quả tiểu đường của mẹ và thai nhi. Ngoài ra, nên hạn chế ăn nhiều carbohydrat vào bữa sáng vì lúc này phụ nữ mang thai đặc biệt nhạy cảm với tác dụng của glucocorticoid.

Liệu pháp dinh dưỡng nên được giám sát bởi một chuyên gia dinh dưỡng bệnh nội tiết chuyển hóa cho mẹ và thai nhi.

4.2 Điều trị tiểu đường thai kỳ bằng thuốc

Nếu người mẹ không thể ổn định đường huyết bằng điều chỉnh dinh dưỡng đơn thuần thì cần phải dùng insulin. Mặc dù glyburide và bidguanide có thể hạ đường huyết cho phụ nữ mang thai nhưng hiện nay vẫn chưa được chấp thuận dùng cho thai đối tượng này.

Phụ nữ mang thai thường được điều chỉnh đường huyết bằng insulin tác dụng nhanh và insulin bán chậm NPH. Người bệnh thương được sử dụng insulin dưới dạng pha sẵn 30/70 gồm 1/3 Insulin tác dụng nhanh và 2/3 Insulin tác dụng bán chậm.

Ban đầu cho bệnh nhân dùng với liều trung bình mỗi ngày là 0,7 đơn vị/kg, dùng trước bữa ăn, chia làm 2 đến 3 lần. Nếu chỉ chia làn 2 lần thì 2/3 liều trong ngày sẽ được tiêm trước khi ăn sáng và 1/3 liều còn lại được tiêm trước ăn tối.

Insulin thường được tiên cho mẹ dưới da, và chủ yếu là ở vùng da bụng.

Trường hợp bệnh nhân bị tiểu đường typ 1 thì cần tiêm insulin NPH nhở trước mỗi bữa ăn để tạo insulin nền và dùng insulin tác dụng ngắn NPH trước các bữa ăn.

Trường hợp bệnh nhân mang thai bị tiểu đường typ 2, có thể dùng insulin thường hoặc insulin tác dụng ngắn trước các bữa ăn và một liều insulin nền NPH trước lúc ngủ.

Các loại insulin tác dụng ngắn cần tiêm ngay trước mỗi bữa ăn, bao gồm insulin aspart, lispro... Còn Insulin nền thì chỉ cần tiêm 1 lần trong ngày, thường dùng insulin glargine, insulin detemir...

Bệnh nhân tiểu đường thai kỳ cần có máy kiểm tra đường huyết tại nhà, thường xuyên kiểm tra đường huyết và báo ngay với bác sĩ nếu có gì bất thường. Người bệnh có thể đo đường huyết lúc đói và trong khoảng 1 đến 2 giờ sau ăn và trước khi đi ngủ vào buổi tối.

Điều trị tiểu đường thai kỳ bằng insulin.

Điều trị tiểu đường thai kỳ bằng insulin.

4.3 Sử dụng insulin trong lúc sinh ở phụ nữ tiểu đường thai kỳ

Trong lúc sinh, truyền tĩnh mạch Insulin tác dụng nhanh, liều mỗi giờ từ 1 đến 2 đơn vị cùng 7,5gam glucose để duy trì đường huyết dưới 110 mg/dL.

Nếu mẹ có nồng độ glucose máu trên 130mg/dL, cần điều chỉnh bằng cách truyền tĩnh mạch Lactat Riger 125 ml mỗi giờ.

Nếu mẹ có glucose máu dưới 130 mg/dL, giữ thông và truyền tĩnh mạch bằng Lactat Ringer và Glucose 5% liều mỗi giờ là 125 mL.

Pha Insulin thường trong NaCl 9‰ để được nồng độ 1 đơn vị trong 1 mL dịch. Liều và tốc độ truyền tùy thuộc vào đường huyết của thai phụ như sau:

  • Nếu thai phụ có đường huyết từ 111 đến 130 (mg/dL) thì truyền với liều 1 đv/giờ.
  • Nếu đường huyết từ 131 đến 150 (mg/dL) thì truyền với liều 2 đv/giờ.
  • Nếu đường huyết từ 151 đến 170 (mg/dL) thì truyền dung dịch với liều 3 đv/giờ.
  • Nếu đường huyết từ 121 đến 190 (mg/dL) thì truyền dung dịch trên với liều 4 đv/giờ.
  • Còn khi đường huyết trên 190 (mg/dL) thì cần kiểm tra ceton và hội chẩn chuyển khoa.

Cần kiểm tra lượng đường huyết trong quá trình truyền, tốt nhất là mỗi giờ một lần. Phác đồ truyền insulin như trên được dùng cho phụ nữ mang thai cần nhịn ăn. Nếu bệnh nhân đang sử dụng corticosteroid, thường phải truyền insulin với liều cao hơn. Nếu người mẹ vẫn ăn thì phải tiêm insulin tác dụng nhanh trước khi ăn.

Sau khi sinh xong, hiện tượng đề kháng insulin này sẽ được cải thiện nhanh. Nếu bệnh nhân bị tiểu đường typ 1 và typ 2 đang được điều trị bằng insulin có thể quay lại dùng liều cũ ngay khi ăn được, nếu tiểu đường typ 2 điều trị bằng thuốc thì có thể không phải dùng thuốc sau khi sinh từ 24 đến 48 tiếng.

5 Thời gian sinh và phương pháp sinh của phụ nữ mang thai bị đái tháo đường

Nếu người bệnh mang thai có nguy cơ thấp, có thể sinh vào tuần thai 39 đến 40 trừ khi gặp phải vấn đề viêm nhiễm phụ khoa hay đe dọa con to.

Tiểu đường thai kỳ làm tăng nguy cơ sinh con to.

Tiểu đường thai kỳ làm tăng nguy cơ sinh con to.

Còn những phụ nữ có nguy cơ cao, đường huyết bất ổn, thai nhi không có nguy cơ bị suy hô hấp, thiếu surfactant phổi, thì xem xét trì hoãn đến tuần thai 38 đến 40.

Nếu xác định sinh sớm trước tuần lễ thứ 37, phải chọc dò nước ối, kiểm tra các thông số để xem trẻ có nguy cơ bị suy hô hấp hay không. Nếu không có nguy cơ suy hô hấp, có thể sinh mổ khi cân nặng dự tính của thai nhi trên 4,0 đến 4,2 kg. Khi sinh tự nhiên, cần theo dõi tim thai liên tục, vì trẻ có nguy cơ bị thiếu oxy nếu đường huyết của mẹ trên 150mg/dL tương đương 8,3mmol/l.

Trên đây là các thông tin về đái tháo đường ở phụ nữ mang thai, hy vọng sẽ hữu ích với các bạn.


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......