Azzol-S 150mg
Thuốc kê đơn
Thuốc kê đơn quý khách vui lòng điền thông tin/ chat vào phần liên hệ này để dược sĩ tư vấn và đặt hàng
| Thương hiệu | Medicair, Medicair Bioscience Laboratories S.A |
| Công ty đăng ký | Công ty TNHH Thương mại và Dược phẩm Phú Anh |
| Số đăng ký | 520110308825 |
| Dạng bào chế | Viên nang cứng |
| Quy cách đóng gói | Hộp 1 vỉ x 7 viên |
| Hoạt chất | Fluconazole, Lactose (Lactose monohydrate, Lactosum) |
| Tá dược | Magnesi stearat, Sodium Laureth Sulfate, titanium dioxid |
| Xuất xứ | Hy Lạp |
| Mã sản phẩm | tq1069 |
| Chuyên mục | Thuốc Chống Nấm |
Nếu phát hiện nội dung không chính xác, vui lòng phản hồi thông tin cho chúng tôi tại đây
- Chi tiết sản phẩm
- Hỏi & Đáp 0
- Đánh giá 0
1 Thành phần
Thành phần dược chất:
Fluconazole: 150 mg
Thành phần tá dược:
Lactose monohydrate, Maize starch, Colloidal anhydrous silica, Sodium lauryl sulfate, Magnesium stearate, Vỏ nang (Gelatin, Titanium dioxide (E 171) (CI 77891), Tartrazine (E102) (CI 19140), Erythrosine (E127) (CI 5430), Patent blue V (E131) (CI 42051)).
2 Tác dụng - Chỉ định của thuốc Azzol-S
2.1 Tác dụng
Hoạt chất Fluconazole thuộc nhóm dẫn chất triazole toàn thân, sở hữu phổ tác dụng kháng nấm rộng trên nhiều chủng nấm men và nấm mốc gây bệnh phổ biến. Thuốc hoạt động dựa trên khả năng can thiệp trực tiếp vào màng tế bào của vi nấm, mang lại hiệu năng cao trong việc kìm hãm và tiêu diệt các tác nhân nhiễm trùng sâu lẫn nhiễm trùng bề mặt.

2.2 Chỉ định
Thuốc được chỉ định sử dụng cho người lớn trong các trường hợp điều trị sau:
Viêm màng não xuất hiện do tác nhân Cryptococcus.
Tình trạng nhiễm khuẩn do nấm Coccidioides.
Các thể nhiễm Candida xâm lấn.
Nhiễm nấm Candida tại niêm mạc bao gồm các dạng: nhiễm Candida vùng miệng - hầu, vùng thực quản, Candida trong nước tiểu (Candida niệu) và bệnh lý Candida da - niêm mạc mạn tính.
Tình trạng nhiễm Candida gây teo ở miệng mạn tính (biểu hiện đau miệng do sử dụng răng giả) khi việc áp dụng các biện pháp vệ sinh răng miệng hoặc điều trị bằng thuốc tại chỗ không đem lại đáp ứng đầy đủ.
Nhiễm Candida âm đạo thể cấp tính hoặc mạn tính trong trường hợp các liệu pháp xử trí tại chỗ không thích hợp.
Bệnh lý viêm quy đầu xuất hiện do Candida khi việc điều trị bằng thuốc tại chỗ không phù hợp.
Các thể nhiễm nấm da bao gồm nấm chân, nấm thân, nấm bẹn, bệnh lang ben cũng như các tình trạng nhiễm Candida ở da khi có chỉ định áp dụng liệu pháp toàn thân.
Tình trạng nhiễm nấm tại móng khi việc sử dụng các thuốc điều trị khác không mang lại sự phù hợp.
Thuốc được chỉ định sử dụng cho người lớn trong các trường hợp điều trị dự phòng sau:
Ngăn ngừa nguy cơ tái phát viêm màng não do Cryptococcus đối với nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao.
Phòng ngừa tình trạng tái nhiễm Candida tại vùng miệng - hầu hoặc thực quản ở những đối tượng nhiễm HIV có nguy cơ tái phát cao.
Hỗ trợ làm giảm tỷ lệ xuất hiện của bệnh nhiễm Candida âm đạo mạn tính (được xác định từ 4 đợt trở lên trong vòng một năm).
Dự phòng nhiễm Candida cho các bệnh nhân bị tình trạng giảm bạch cầu trung tính kéo dài (chẳng hạn như nhóm bệnh nhân mắc u máu ác tính đang tiến hành hóa trị hoặc những người được thực hiện ghép tế bào gốc của máu).
Thuốc được chỉ định sử dụng cho trẻ mới sinh đủ tháng, trẻ sơ sinh, trẻ mới biết đi, trẻ em và thiếu niên trong độ tuổi từ 0 đến 17 tuổi trong các trường hợp:
Điều trị nhiễm Candida niêm mạc (miệng - hầu, thực quản), các thể nhiễm Candida xâm lấn, bệnh lý viêm màng não do Cryptococcus và dự phòng nhiễm Candida ở những người bệnh bị suy giảm chức năng miễn dịch.
Thuốc có thể áp dụng trong điều trị duy trì nhằm mục đích ngăn ngừa nguy cơ tái phát viêm màng não do Cryptococcus ở nhóm đối tượng trẻ em có nguy cơ tái phát cao.
Bác sĩ có thể tiến hành chỉ định điều trị trước khi có kết quả nuôi cấy vi nấm và các xét nghiệm cận lâm sàng khác; tuy nhiên, ngay khi có kết quả, cần thực hiện điều chỉnh phác đồ chống nhiễm khuẩn sao cho thích hợp. Bên cạnh đó, nên chủ động tham khảo các hướng dẫn chính thức về việc sử dụng thuốc kháng nấm một cách hợp lý.
==>> Xem thêm thuốc có cùng hoạt chất: Thuốc Hafluzol 40mg điều trị nấm
3 Liều dùng - Cách dùng thuốc Azzol-S
3.1 Liều dùng
Liều lượng sử dụng cần được thiết lập cụ thể dựa trên bản chất cũng như mức độ nghiêm trọng của tình trạng nhiễm nấm. Đối với những thể nhiễm nấm yêu cầu áp dụng phác đồ đa liều, việc điều trị phải được duy trì liên tục cho tới khi các thông số lâm sàng hoặc kết quả xét nghiệm chứng minh tình trạng nhiễm nấm hoạt động đã thuyên giảm. Việc dừng điều trị không đủ thời gian có thể dẫn tới nguy cơ tái phát nhiễm nấm hoạt động.
Người lớn
Viêm màng não do Cryptococcus: Liều tấn công là 400 mg vào ngày đầu tiên, các ngày tiếp theo duy trì với liều từ 200 mg đến 400 mg, dùng 1 lần/ngày. Thời gian điều trị thông thường kéo dài ít nhất từ 6 đến 8 tuần; trong những tình huống đe dọa trực tiếp đến tính mạng, liều có thể tăng lên đến 800 mg/ngày.
Dự phòng tái phát viêm màng não do Cryptococcus ở bệnh nhân có nguy cơ cao: Dùng liều duy trì 200 mg, uống 1 lần/ngày, thời gian kéo dài không thời hạn với mức liều hàng ngày này.
Nhiễm Coccidioides: Dùng liều từ 200 mg đến 400 mg, uống 1 lần/ngày. Thời gian kéo dài từ 11 đến 24 tháng hoặc có thể lâu hơn tùy thuộc vào từng bệnh nhân cụ thể. Có thể xem xét nâng liều lên 800 mg mỗi ngày đối với một số tình trạng nhiễm nấm đặc biệt, nhất là đối với bệnh màng não.
Nhiễm Candida xâm lấn: Liều tấn công là 800 mg vào ngày đầu tiên, các ngày tiếp theo duy trì với liều 400 mg, uống 1 lần/ngày. Nhìn chung, thời gian điều trị khuyến cáo cho bệnh nấm Candida huyết là trong vòng 2 tuần sau khi có kết quả cấy máu âm tính đầu tiên và bệnh nhân đã hết hoàn toàn các dấu hiệu cũng như triệu chứng lâm sàng.
Nhiễm Candida miệng - hầu: Liều tấn công là 200 mg đến 400 mg vào ngày đầu tiên, các ngày tiếp theo dùng liều 100 mg đến 200 mg, uống 1 lần/ngày. Thời gian điều trị kéo dài từ 7 đến 21 ngày (cho đến khi tình trạng nhiễm nấm thuyên giảm), có thể kéo dài hơn ở người suy giảm miễn dịch nghiêm trọng.
Nhiễm Candida thực quản: Liều tấn công là 200 mg đến 400 mg vào ngày đầu tiên, các ngày tiếp theo dùng liều 100 mg đến 200 mg, uống 1 lần/ngày. Thời gian điều trị từ 14 đến 30 ngày (cho đến khi bệnh thuyên giảm), có thể kéo dài hơn ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch nặng.
Candida niệu: Dùng liều từ 200 mg đến 400 mg, uống 1 lần/ngày, thời gian duy trì từ 7 đến 21 ngày, có thể kéo dài hơn ở người bị suy giảm miễn dịch nặng.
Nhiễm Candida gây teo ở miệng mạn tính: Dùng liều 50 mg, uống 1 lần/ngày, thời gian kéo dài trong vòng 14 ngày.
Nhiễm Candida da - niêm mạc mạn tính: Dùng liều từ 50 mg đến 100 mg, uống 1 lần/ngày, thời gian kéo dài lên đến 28 ngày hoặc lâu hơn tùy vào mức độ nhiễm nấm hay tình trạng suy giảm miễn dịch sẵn có.
Phòng ngừa tái phát Candida miệng - hầu ở bệnh nhân HIV có nguy cơ cao: Dùng liều từ 100 mg đến 200 mg, uống 1 lần/ngày hoặc dùng liều 200 mg với tần suất 3 lần mỗi tuần, thời gian áp dụng không thời hạn đối với người bị ức chế miễn dịch mạn tính.
Phòng ngừa tái phát Candida thực quản ở bệnh nhân HIV có nguy cơ cao: Dùng liều từ 100 mg đến 200 mg, uống 1 lần/ngày hoặc dùng liều 200 mg với tần suất 3 lần mỗi tuần, thời gian áp dụng không thời hạn đối với người bị ức chế miễn dịch mạn tính.
Nhiễm Candida âm đạo cấp tính hoặc viêm quy đầu do Candida: Dùng một liều duy nhất (liều đơn) 150 mg.
Điều trị và dự phòng nhiễm Candida âm đạo mạn tính (từ 4 đợt trở lên trong 1 năm): Dùng liều 150 mg với tần suất ba ngày một liều (vào các ngày 1, ngày 4 và ngày 7), tổng cộng dùng 3 liều; sau đó tiếp tục áp dụng liều duy trì 150 mg trong vòng 6 tháng.
Nhiễm nấm da (nấm chân, nấm toàn thân, nấm bẹn, nhiễm Candida da): Dùng liều 150 mg with tần suất 1 lần/tuần hoặc dùng liều 50 mg với tần suất 1 lần/ngày. Thời gian điều trị thông thường từ 2 đến 4 tuần, riêng đối với nấm chân có thể yêu cầu thời gian kéo dài đến 6 tuần.
Lang ben: Dùng liều từ 300 mg đến 400 mg với tần suất 1 lần/tuần trong thời gian từ 1 đến 3 tuần; hoặc sử dụng liều 50 mg với tần suất 1 lần/ngày trong thời gian từ 2 đến 4 tuần.
Nấm biểu bì (bệnh nấm móng): Dùng liều 150 mg với tần suất 1 lần/tuần. Tiến trình điều trị cần được duy trì liên tục cho đến khi móng bị nhiễm nấm được thay thế hoàn toàn bởi móng khỏe mạnh mới mọc lên. Thời gian mọc móng tay thường cần từ 3 đến 6 tháng và móng chân cần từ 6 đến 12 tháng (tuy nhiên tốc độ mọc có thể thay đổi tùy thuộc cá thể và tuổi tác). Sau khi điều trị thành công nhiễm nấm mạn tính lâu dài, móng tay thỉnh thoảng vẫn có thể bị biến dạng.
Dự phòng nhiễm Candida ở bệnh nhân giảm bạch cầu trung tính kéo dài: Dùng liều từ 200 mg đến 400 mg, uống 1 lần/ngày. Nên bắt đầu triển khai điều trị trước một vài ngày so với thời điểm dự kiến khởi phát giảm bạch cầu trung tính và duy trì liên tiếp trong vòng 7 ngày sau khi số lượng bạch cầu trung tính hồi phục tăng lên trên mức 1000 tế bào/mm3.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người già: Thực hiện điều chỉnh liều dùng dựa trên chức năng thận của bệnh nhân.
Suy thận: Hoạt chất chủ yếu bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không thay đổi. Không yêu cầu điều chỉnh liều đối với liệu pháp sử dụng liều đơn duy nhất. Với những người bệnh (bao gồm cả bệnh nhi) suy giảm chức năng thận cần áp dụng liệu pháp đa liều, liều khởi đầu nên dùng từ 50 mg đến 400 mg dựa trên mức liều khuyến cáo hàng ngày của từng chỉ định. Sau liều tấn công đó, liều dùng hàng ngày được hiệu chỉnh theo độ thanh thải Creatinine như sau:
Độ thanh thải Creatinine > 50 ml/phút: Áp dụng 100% mức liều khuyến cáo.
Độ thanh thải Creatinine <= 50 ml/phút (không tiến hành chạy thận nhân tạo): Áp dụng 50% mức liều khuyến cáo.
Bệnh nhân thực hiện chạy thận nhân tạo: Áp dụng 100% mức liều khuyến cáo sau mỗi lần hoàn tất một buổi chạy thận nhân tạo. Vào những ngày không lọc máu, bệnh nhân cần được giảm liều dựa theo độ thanh thải Creatinine.
Suy gan: Dữ liệu có sẵn còn hạn chế trên nhóm bệnh nhân suy gan, do đó cần hết sức thận trọng khi sử dụng thuốc cho những đối tượng bị rối loạn chức năng gan.
Trẻ em
- Không được vượt quá mức liều tối đa là 400 mg mỗi ngày cho đối tượng trẻ em. Thời gian điều trị cần căn cứ vào đáp ứng lâm sàng và kết quả nấm học. Thuốc được sử dụng dưới dạng một liều duy nhất hàng ngày. Đối với bệnh nhi bị suy giảm chức năng thận, thực hiện hiệu chỉnh liều như mục "Suy thận" (lưu ý dược động học của thuốc chưa được nghiên cứu cụ thể ở trẻ em suy thận).
- Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, trẻ em (từ 28 ngày đến 11 tuổi):
- Nhiễm nấm Candida niêm mạc: Liều tấn công là 6 mg/kg; liều tiếp theo duy trì ở mức 3 mg/kg, dùng 1 lần/ngày. Liều khởi đầu này có thể áp dụng vào ngày đầu tiên nhằm đạt trạng thái ổn định nhanh hơn.
- Nhiễm Candida xâm lấn hoặc viêm màng não do Cryptococcus: Dùng liều từ 6 đến 12 mg/kg, uống 1 lần/ngày, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh lý.
- Điều trị duy trì ngăn ngừa viêm màng não do Cryptococcus ở trẻ có nguy cơ tái phát cao: Dùng liều 6 mg/kg, uống 1 lần/ngày, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh lý.
- Dự phòng nhiễm Candida ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch: Dùng liều từ 3 đến 12 mg/kg, uống 1 lần/ngày, phụ thuộc trực tiếp vào mức độ cũng như thời gian của tình trạng giảm bạch cầu trung tính do cảm ứng.
- Thanh thiếu niên (từ 12 đến 17 tuổi): Căn cứ vào cân nặng và sự phát triển dậy thì của đối tượng, bác sĩ cần tiến hành đánh giá xem việc áp dụng liều dùng của người lớn hay trẻ em là thích hợp nhất. Dữ liệu lâm sàng chỉ ra trẻ em có độ thanh thải thuốc cao hơn người lớn; để đạt nồng độ toàn thân tương đương, mức liều 100 mg, 200 mg và 400 mg ở người lớn sẽ tương ứng với mức liều 3 mg/kg, 6 mg/kg và 12 mg/kg ở trẻ em. Tính an toàn và hiệu quả đối với chỉ định nhiễm Candida sinh dục ở bệnh nhi chưa được thiết lập; nếu bắt buộc phải điều trị nhiễm Candida sinh dục cho thiếu niên (12 đến 17 tuổi), liều dùng phải tương tự như người lớn.
- Trẻ sơ sinh đủ tháng (từ 0 đến 27 ngày tuổi): Tiến trình thải trừ thuốc ở trẻ sơ sinh diễn ra chậm và có rất ít dữ liệu dược động học hỗ trợ. Liều dùng được khuyến cáo cụ thể như sau:
- Từ 0 đến 14 ngày tuổi: Áp dụng mức liều mg/kg tương tự như cho trẻ sơ sinh, trẻ mới sinh và trẻ em nhưng dùng với tần suất mỗi 72 giờ một lần. Tuyệt đối không vượt quá liều tối đa 12 mg/kg cho mỗi 72 giờ.
- Từ 15 đến 27 ngày tuổi: Áp dụng mức liều mg/kg tương tự như cho trẻ sơ sinh, trẻ mới sinh và trẻ em nhưng dùng với tần suất mỗi 48 giờ một lần. Tuyệt đối không vượt quá liều tối đa 12 mg/kg cho mỗi 48 giờ.
3.2 Cách dùng
Thuốc được sử dụng bằng đường uống. Người bệnh cần nuốt nguyên viên thuốc cùng với nước, thời điểm sử dụng thuốc hoàn toàn không phụ thuộc vào bữa ăn.
4 Chống chỉ định
Tình trạng quá mẫn với hoạt chất chính, với bất kỳ dẫn chất azole liên quan nào, hoặc dị ứng với bất kỳ thành phần tá dược nào đã được liệt kê cụ thể tại mục Thành phần.
Chống chỉ định phối hợp đồng thời với terfenadine ở những người bệnh đang sử dụng thuốc đa liều với mức liều từ 400 mg mỗi ngày trở lên, dựa trên kết quả thu được từ một nghiên cứu tương tác đa liều.
Chống chỉ định sử dụng phối hợp đồng thời với các thuốc khác đã được biết đến là có khả năng làm kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ và được chuyển hóa thông qua hệ thống enzym cytochrom P450 (CYP) 3A4, ví dụ như cisapride, astemizole, pimozide, quinidine và Erythromycin ở những bệnh nhân đang điều trị bằng fluconazole.
==>> Bạn đọc có thể tham khảo thêm: Thuốc Futazol 50mg điều trị nấm
5 Tác dụng phụ
Các phản ứng bất lợi xuất hiện phổ biến nhất với tần suất lớn hơn 1/10 bao gồm đau đầu, đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn, tình trạng tăng alanine aminotransferase, tăng aspartate aminotransferase, tăng nồng độ phosphatase kiềm trong máu và phát ban da.
Dưới đây là các phản ứng bất lợi đã được ghi nhận và báo cáo trong giai đoạn điều trị bằng thuốc, được phân loại cụ thể theo tần suất:
Rối loạn máu và hệ bạch huyết: Ít gặp tình trạng thiếu máu. Hiếm gặp các biến cố mất bạch cầu hạt, giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu trung tính.
Rối loạn hệ miễn dịch: Hiếm gặp phản ứng phản vệ.
Rối loạn dinh dưỡng và chuyển hóa: Ít gặp biểu hiện giảm sự thèm ăn. Hiếm gặp tình trạng tăng cholesterol huyết, tăng triglyceride huyết và hạ Kali huyết.
Rối loạn tâm thần: Ít gặp tình trạng buồn ngủ hoặc mất ngủ.
Rối loạn hệ thần kinh: Thường gặp đau đầu. Ít gặp các cơn động kinh, dị cảm, hoa mắt, mất vị giác. Hiếm gặp tình trạng run.
Rối loạn tai và tai trong: Ít gặp chứng chóng mặt.
Rối loạn tim mạch: Hiếm gặp hiện tượng xoắn đỉnh và kéo dài khoảng QT.
Rối loạn tiêu hóa: Thường gặp các biểu hiện đau bụng, buồn nôn, nôn và tiêu chảy. Ít gặp tình trạng táo bón, khó tiêu, đầy hơi và khô miệng.
Rối loạn gan mật: Thường gặp tăng alanine aminotransferase, tăng aspartate aminotransferase và tăng phosphatase kiềm huyết. Ít gặp tình trạng ứ mật, vàng da và tăng nồng độ bilirubin. Hiếm gặp suy gan, hoại tử tế bào gan, viêm gan và tổn thương tế bào gan.
Rối loạn da và mô dưới da: Thường gặp phát ban. Ít gặp phát ban do thuốc (bao gồm cả các phát ban thuốc cố định), nổi mày đay, ngứa và tăng tiết mồ hôi. Hiếm gặp hoại tử biểu bì nhiễm độc, Hội chứng Stevens-Johnson, hội chứng ngoại ban mụn mủ toàn thân cấp tính, viêm da tróc vảy, phù mạch, phù mặt và rụng tóc. Tần suất không xác định đối với phản ứng thuốc kèm tăng bạch cầu ái toan và các triệu chứng toàn thân (DRESS).
Rối loạn cơ xương khớp và mô liên kết: Ít gặp triệu chứng đau cơ.
Rối loạn toàn thân và tại chỗ sử dụng: Ít gặp trạng thái mệt mỏi, khó chịu, suy nhược và sốt.
Đối với đối tượng trẻ em, mô hình và tỷ lệ xuất hiện các phản ứng bất lợi cũng như các bất thường trong xét nghiệm phòng thí nghiệm được ghi nhận thông qua các thử nghiệm lâm sàng (ngoại trừ chỉ định nhiễm nấm candida tại bộ phận sinh dục) có tính tương đồng và hoàn toàn có thể so sánh được với những gì quan sát thấy ở người lớn.
6 Tương tác
Cisapride: Đã có các báo cáo về biến cố tim mạch nguy hiểm bao gồm xoắn đỉnh ở người dùng đồng thời cisapride và thuốc. Nghiên cứu có kiểm soát chỉ ra việc phối hợp fluconazole 200 mg x 1 lần/ngày và cisapride 20 mg x 4 lần/ngày làm tăng đáng kể nồng độ cisapride trong huyết tương và kéo dài khoảng QTc. Do đó chống chỉ định phối hợp đồng thời.
Terfenadine: Việc phối hợp các thuốc chống nấm azole với terfenadine có thể gây rối loạn nhịp tim nghiêm trọng do kéo dài khoảng QTc. Nghiên cứu với liều fluconazole 200 mg/ngày không thấy kéo dài khoảng QTc, nhưng nghiên cứu với liều 400 mg and 800 mg/ngày chứng minh liều từ 400 mg/ngày trở lên làm tăng đáng kể nồng độ terfenadine huyết tương khi dùng chung. Vì vậy chống chỉ định dùng phối hợp terfenadine với fluconazole liều >= 400 mg/ngày và cần kiểm soát chặt chẽ nếu dùng liều < 400 mg/ngày.
Astemizole: Sử dụng đồng thời có thể làm giảm độ thanh thải của astemizole, dẫn tới tăng nồng độ thuốc này trong huyết tương, kéo dài khoảng QT và hiếm gặp hiện tượng xoắn đỉnh. Chống chỉ định dùng đồng thời.
Pimozide: Mặc dù thiếu nghiên cứu in vitro hay in vivo, việc dùng chung có thể gây ức chế chuyển hóa pimozide, làm tăng nồng độ của nó trong huyết tương, dẫn tới kéo dài khoảng QT và đôi khi gây xoắn đỉnh. Chống chỉ định phối hợp đồng thời.
Quinidine: Dù chưa có nghiên cứu in vitro hoặc in vivo, dùng đồng thời có thể gây ức chế chuyển hóa quinidine, làm kéo dài khoảng QT và hiếm khi xuất hiện xoắn đỉnh. Chống chỉ định phối hợp đồng thời.
Erythromycin: Sử dụng chung có khả năng làm tăng nguy cơ độc tính với tim (gồm kéo dài khoảng QT, hiện tượng xoắn đỉnh) và có thể gây đột tử do tim. Chống chỉ định dùng phối hợp.
Halofantrine: Thuốc có thể làm tăng nồng độ halofantrine trong huyết tương thông qua cơ chế ức chế CYP3A4. Việc phối hợp có khả năng làm gia tăng nguy cơ độc tính đối với tim (kéo dài khoảng QT, gây xoắn đỉnh) và dẫn đến đột tử cho tim, do đó khuyến cáo tránh dùng kết hợp.
Amiodarone: Sử dụng đồng thời có khả năng làm tăng mức độ kéo dài khoảng QT. Cần hết sức thận trọng nếu thực sự bắt buộc phải dùng đồng thời, đặc biệt là khi áp dụng liều cao fluconazole (800 mg).
Rifampicin: Dùng đồng thời làm giảm 25% Diện tích dưới đường cong (AUC) và rút ngắn 20% thời gian bán thải của fluconazole. Do đó cần xem xét việc tăng liều fluconazole trên những bệnh nhân đang phối hợp với Rifampicin.
Thức ăn, Cimetidine, thuốc kháng acid hoặc tống chiếu xạ toàn thân: Các nghiên cứu tương tác chỉ ra sự hấp thu của fluconazole suy giảm không đáng kể về mặt lâm sàng khi dùng chung với các yếu tố này.
Hydrochlorothiazide: Nghiên cứu tương tác dược động học cho thấy chỉ định đồng thời Hydrochlorothiazide đa liều làm tăng nồng độ fluconazole trong huyết tương thêm 40%, tuy nhiên ảnh hưởng này không đòi hỏi phải thay đổi chế độ liều fluconazole.
Các thuốc được chuyển hóa qua CYP2C9, CYP2C19 và CYP3A4: Do thuốc là chất ức chế trung bình CYP2C9, CYP3A4 và chất ức chế mạnh CYP2C19, việc phối hợp đồng thời sẽ làm tăng nguy cơ gia tăng nồng độ của các thuốc chuyển hóa qua hệ enzym này. Cần thận trọng và theo dõi chặt chẽ bệnh nhân, lưu ý tác dụng ức chế enzym có thể kéo dài từ 4 đến 5 ngày sau khi ngừng điều trị do thuốc có thời gian bán thải dài.
Alfentanil: Dùng đồng thời fluconazole (400 mg) và alfentanil tiêm tĩnh mạch làm tăng gấp đôi giá trị AUC10 của alfentanil, có thể thông qua cơ chế ức chế CYP3A4, do đó có thể cần tiến hành hiệu chỉnh liều dùng của alfentanil.
Amitriptyline, nortriptyline: Thuốc làm gia tăng tác dụng của amitriptyline và nortriptyline. Có thể đo nồng độ 5-nortriptyline và/hoặc S-amitriptyline tại thời điểm khởi đầu phối hợp và sau đó 1 tuần để thực hiện hiệu chỉnh liều nếu cần.
Amphotericin B: Nghiên cứu trên chuột cho thấy hiệu quả kháng nấm tăng nhẹ trong nhiễm nấm toàn thân với C. albicans, không xuất hiện tương tác đối với nhiễm khuẩn nội sọ gây bởi Cryptococcus neoformans, và xuất hiện tương tác đối kháng trong nhiễm nấm toàn thân với Aspergillus fumigatus (ý nghĩa lâm sàng chưa được xác định rõ).
Các thuốc chống đông (Warfarin): Dữ liệu hậu mãi ghi nhận các biến cố chảy máu (bầm tím, chảy máu cam, xuất huyết tiêu hóa, tiểu ra máu, phân đen) đi kèm tăng thời gian prothrombin khi dùng đồng thời warfarin, thời gian prothrombin có thể kéo dài đến 2 lần do ức chế chuyển hóa qua CYP2C9. Cần theo dõi chặt chẽ thời gian prothrombin ở người dùng thuốc chống đông kiểu coumarin hoặc indanedione và hiệu chỉnh liều nếu cần.
Benzodiazepines tác dụng ngắn (Midazolam, Triazolam): Dùng đồng thời đường uống làm tăng đáng kể nồng độ benzodiazepines và gây ảnh hưởng tâm thần vận động. Phối hợp với Midazolam 7,5 mg làm tăng AUC và thời gian bán thải midazolam lần lượt 3,7 và 2,2 lần. Phối hợp với triazolam 0,25 mg làm tăng AUC và thời gian bán thải triazolam lần lượt 4,4 và 2,3 lần. Nếu bắt buộc phối hợp, cần xem xét giảm liều benzodiazepine và theo dõi thích hợp.
Carbamazepine: Thuốc ức chế chuyển hóa và làm gia tăng nồng độ Carbamazepine trong huyết thanh thêm 30%, làm tăng nguy cơ độc tính. Có thể cần điều chỉnh liều carbamazepine căn cứ vào tỷ lệ nồng độ đo được.
Thuốc chẹn kênh calci (Nifedipine, isradipine, amlodipine, Verapamil, Felodipine): Được chuyển hóa bởi CYP3A4, fluconazole có thể làm tăng nồng độ của các thuốc này trong huyết thanh, khuyến cáo cần thường xuyên kiểm soát các tác dụng có hại.
Celecoxib: Điều trị phối hợp fluconazole (200 mg/ngày) và Celecoxib (200 mg) làm Cmax celecoxib tăng 68% và AUC tăng 134%, do đó có thể cần thiết phải giảm nửa liều celecoxib.
Cyclophosphamide: Dùng đồng thời làm gia tăng nồng độ bilirubin và creatinine trong huyết thanh, cần hết sức cân nhắc khi phối hợp do nguy cơ độc tính này.
Fentanyl: Đã có báo cáo về một trường hợp tử vong do nhiễm độc Fentanyl nghi ngờ do tương tác thuốc. Fluconazole làm chậm thải trừ fentanyl đáng kể ở người tình nguyện khỏe mạnh, nồng độ fentanyl tăng cao có thể dẫn đến ức chế hô hấp đe dọa tính mạng. Cần theo dõi sát và điều chỉnh liều fentanyl nếu cần.
Các thuốc ức chế HMG-CoA reductase (Atorvastatin, Simvastatin, Fluvastatin): Nguy cơ mắc bệnh cơ và tiêu cơ vân tăng lên khi dùng chung. Nếu phải phối hợp, cần kiểm tra triệu chứng bệnh cơ, tiêu cơ vân và kiểm soát nồng độ creatine kinase; phải ngừng thuốc ức chế HMG-CoA reductase nếu creatine kinase tăng hoặc khi nghi ngờ/chẩn đoán mắc bệnh cơ tiêu cơ vân.
Olaparib: Làm gia tăng nồng độ Olaparib trong huyết tương, khuyến cáo không sử dụng đồng thời. Nếu việc kết hợp không thể tránh khỏi, cần giới hạn liều olaparib xuống mức 200 mg x 2 text lần/ngày.
Ciclosporin: Thuốc làm gia tăng đáng kể nồng độ và AUC của Ciclosporin (tăng 1,8 lần khi dùng đồng thời fluconazole 200 mg/ngày và ciclosporin 2,7 mg/kg/ngày). Có thể phối hợp bằng cách giảm liều ciclosporin dựa theo nồng độ thuốc.
Everolimus: Dù chưa có nghiên cứu in vivo hay in vitro, thuốc có thể làm gia tăng nồng độ trong huyết thanh của Everolimus thông qua cơ chế ức chế enzym CYP3A4.
Sirolimus: Làm gia tăng nồng độ sirolimus trong huyết tương, có lẽ do ức chế chuyển hóa qua CYP3A4 và P-glycoprotein; có thể phối hợp phụ thuộc vào tỷ lệ tác dụng/nồng độ sirolimus.
Tacrolimus: Làm tăng nồng độ Tacrolimus trong huyết thanh khi dùng đường uống lên đến 5 lần do ức chế chuyển hóa qua CYP3A4 ở ruột, liên quan tới độc tính với thận (không thấy thay đổi dược động học khi dùng Tacrolimus đường tĩnh mạch). Cần giảm liều uống của tacrolimus căn cứ theo nồng độ của nó.
Losartan: Thuốc ức chế tiến trình chuyển hóa của Losartan thành chất chuyển hóa có hoạt tính (E-3174) vốn giữ vai trò đối kháng thụ thể angiotensin II chủ yếu, yêu cầu bệnh nhân phải được kiểm tra huyết áp liên tục.
Methadone: Có thể làm gia tăng nồng độ của Methadone trong huyết thanh, do đó có thể cần tiến hành hiệu chỉnh liều dùng methadone thích hợp.
Thuốc chống viêm không steroid (NSAID): Phối hợp flurbiprofen làm Cmax tăng 23% và AUC tăng 81%. Phối hợp Ibuprofen racemic (400 mg) làm Cmax và AUC của đồng phân hoạt tính S-(+) ibuprofen tăng lần lượt 15% và 82%. Thuốc cũng có khả năng làm tăng nồng độ các NSAID khác chuyển hóa qua CYP2C9 (naproxen, Lornoxicam, Meloxicam, Diclofenac). Khuyến cáo kiểm tra thường xuyên tác dụng phụ và độc tính liên quan, điều chỉnh liều NSAID nếu cần.
Phenytoin: Thuốc ức chế chuyển hóa qua gan của phenytoin. Dùng liều lặp lại 200 mg fluconazole phối hợp 250 mg Phenytoin đường tĩnh mạch làm tăng AUC24 của phenytoin thêm 75% và Cmin thêm 128%. Cần theo dõi chặt chẽ nồng độ phenytoin huyết thanh nhằm tránh độc tính.
Prednisone: Ghi nhận một trường hợp cấy ghép gan xuất hiện suy vỏ thượng thận cấp khi ngưng dùng fluconazole sau 3 tháng phối hợp, có lẽ do việc ngừng thuốc làm tăng hoạt tính CYP3A4 dẫn đến tăng chuyển hóa Prednisone. Bệnh nhân điều trị dài hạn cần được theo dõi chặt chẽ về tình trạng suy vỏ thượng thận khi ngừng dùng fluconazole.
Rifabutin: Làm tăng nồng độ và tăng AUC của Rifabutin lên tới 80%. Đã có báo cáo về các trường hợp viêm màng mạch nhỏ ở bệnh nhân dùng phối hợp, cần xem xét kỹ các triệu chứng độc tính của rifabutin trong liệu pháp kết hợp.
Saquinavir: Làm tăng AUC Saquinavir xấp xỉ 50% và tăng Cmax xấp xỉ 55% do ức chế chuyển hóa qua gan bởi CYP3A4 và ức chế P-glycoprotein. Tương tác với saquinavir/ritonavir chưa được nghiên cứu cụ thể và có thể biểu hiện rõ rệt hơn; có thể cần hiệu chỉnh liều saquinavir.
Sulfonylureas (Chlorpropamide, Glibenclamide, glipizide, tolbutamide): Thuốc làm kéo dài thời gian bán thải trong huyết thanh của các thuốc này khi dùng đồng thời đường uống. Khuyến cáo theo dõi Glucose huyết thường xuyên và tiến hành giảm liều sulfonylurê một cách thích hợp.
Theophylline: Sử dụng liều 200 mg trong vòng 14 ngày làm giảm 18% tốc độ thanh thải trong huyết tương trung bình của theophylline. Bệnh nhân dùng Theophylline liều cao hoặc có nguy cơ ngộ độc cần được theo dõi sát các dấu hiệu nhiễm độc và điều chỉnh phác đồ phù hợp.
Tofacitinib: Nồng độ Tofacitinib tăng lên khi dùng chung với thuốc do cơ chế ức chế CYP3A4 vừa phải và ức chế mạnh CYP2C19. Khuyến cáo giảm liều tofacitinib xuống mức 5 mg mỗi ngày một lần khi phối hợp.
Vinca alkaloids (Vincristine, Vinblastine): Mặc dù chưa nghiên cứu cụ thể, thuốc có thể làm gia tăng nồng độ trong huyết tương của các alkaloid Dừa Cạn dẫn đến độc tính thần kinh, được giải thích do hoạt tính ức chế CYP3A4.
Vitamin A: Báo cáo lâm sàng ghi nhận một bệnh nhân dùng phối hợp với đồng phân trans của retinoid acid xuất hiện tác dụng phụ thần kinh trung ương là hình thành u não giả (triệu chứng biến mất khi ngưng fluconazole). Có thể phối hợp nhưng cần lưu ý theo dõi tác dụng phụ này.
Voriconazole: Voriconazole đường uống phối hợp cùng fluconazole đường uống làm tăng nồng độ Cmax và AUC của voriconazole trung bình tương ứng là 57% và 79%. Chưa có nghiên cứu về việc giảm liều/tần suất để loại bỏ tác dụng này; cần theo dõi sát tác dụng không mong muốn nếu dùng voriconazole tiếp theo sau fluconazole.
Zidovudine: Thuốc làm giảm độ thanh thải zidovudine uống khoảng 45%, dẫn đến tăng Cmax thêm 84% và tăng AUC thêm 74%, thời gian bán thải zidovudine cũng tăng khoảng 128%. Bệnh nhân cần được theo dõi sự xuất hiện của tác dụng phụ liên quan đến zidovudine và cân nhắc giảm liều zidovudine.
Azithromycin: Nghiên cứu nhãn mở, ngẫu nhiên chỉ ra không xuất hiện tương tác đáng kể nào về mặt dược động học giữa liều uống duy nhất 1200 mg Azithromycin và liều uống duy nhất 800 mg fluconazole.
Thuốc tránh thai đường uống phối hợp: Sử dụng liều fluconazole 50 mg không thấy ảnh hưởng tới nồng độ hormon; với liều 200 mg/ngày, diện tích dưới đường cong của ethinyl Estradiol và Levonorgestrel tăng tương ứng 40% và 24%. Dùng đa liều dường như không ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc tránh thai phối hợp.
Ivacaftor: Dùng đồng thời làm tăng mức tiếp xúc của ivacaftor gấp 3 lần và hydroxymethylivacaftor (M1) gấp 1,9 lần. Cần tiến hành giảm liều ivacaftor xuống mức 150 mg x 1 lần/ngày đối với người bệnh dùng chung các chất ức chế CYP3A trung bình như fluconazole.
Tương kỵ: Do không có các nghiên cứu cụ thể về tính tương kỵ của thuốc, tuyệt đối không trộn lẫn thuốc này cùng với các thuốc khác.
7 Lưu ý khi sử dụng và bảo quản
7.1 Lưu ý và thận trọng
Bệnh chốc đầu: Nghiên cứu điều trị bệnh chốc đầu ở trẻ em cho thấy thuốc không vượt trội so với Griseofulvin với tỷ lệ thành công chung dưới 20%, do đó khuyến cáo không nên sử dụng thuốc để điều trị bệnh lý này.
Nhiễm nấm Cryptococcus và nhiễm nấm sâu có tính dịch tễ địa phương: Bằng chứng về hiệu quả của thuốc trong điều trị nhiễm Cryptococcus tại các vị trí khác (như phổi và da) cũng như các dạng nhiễm nấm dịch tễ địa phương (Paracoccidioides, Sporotrichum da - bạch huyết, Histoplasma) còn rất hạn chế, gây khó khăn cho việc đưa ra khuyến cáo cụ thể về liều lượng.
Thận: Cần hết sức thận trọng khi chỉ định sử dụng thuốc ở những đối tượng người bệnh có tình trạng rối loạn chức năng thận.
Suy thượng thận: Ketoconazole đã được biết gây suy thượng thận và biến cố này cũng có thể xảy ra mặc dù hiếm gặp đối với fluconazole (có liên quan đến việc điều trị đồng thời với prednisone).
Gan - mật: Cần thận trọng ở người rối loạn chức năng gan. Thuốc có liên quan tới một số trường hợp hiếm gặp nhiễm độc gan nghiêm trọng bao gồm cả tử vong, chủ yếu ở bệnh nhân có bệnh lý đi kèm trầm trọng. Độc tính trên gan thường hồi phục sau khi ngừng điều trị, không thấy có mối liên quan rõ ràng với tổng liều hàng ngày, thời gian dùng thuốc, giới tính hay tuổi tác. Bệnh nhân có xét nghiệm chức năng gan bất thường cần được theo dõi chặt chẽ. Khi gặp các triệu chứng gợi ý ảnh hưởng gan nghiêm trọng (suy nhược nặng, chán ăn, buồn nôn dai dẳng, nôn và vàng da), người bệnh cần dừng ngay thuốc và hỏi ý kiến bác sĩ.
Tim mạch: Thuốc liên quan đến việc kéo dài khoảng QT trên điện tâm đồ qua cơ chế ức chế chỉnh lưu dòng kênh kali (Ikr). Rất hiếm trường hợp kéo dài khoảng QT và xoắn đỉnh được báo cáo hậu mãi, chủ yếu trên bệnh nhân nặng có nhiều yếu tố nguy cơ (bệnh tim cấu trúc, bất thường điện giải, phối hợp thuốc khác). Bệnh nhân hạ kali huyết và suy tim tiến triển có nguy cơ cao xuất hiện loạn nhịp thất và xoắn đỉnh đe dọa tính mạng. Cần thận trọng ở người có tình trạng loạn nhịp tiềm tàng và chống chỉ định phối hợp với thuốc kéo dài khoảng QT chuyển hóa qua CYP3A4.
Phản ứng da: Hiếm gặp các phản ứng da tróc vảy nguy hiểm như hội chứng Stevens-Johnson và hoại tử biểu bì nhiễm độc. Bệnh nhân AIDS dễ bị phát triển các phản ứng da trầm trọng đối với nhiều loại thuốc. Nếu xuất hiện ban da được coi là do thuốc ở bệnh nhân điều trị nhiễm nấm bề mặt, cần ngừng thuốc ngay. Trường hợp xuất hiện ban da ở bệnh nhân nhiễm nấm toàn thân hoặc xâm lấn, cần theo dõi chặt chẽ và ngừng thuốc nếu xuất hiện tổn thương dạng bóng nước hoặc hồng ban đa dạng.
Quá mẫn: Đã có báo cáo về các trường hợp phản ứng phản vệ nhưng với tần suất hiếm gặp.
Cytochrome P450: Thuốc là chất ức chế trung bình CYP2C9, CYP3A4 và ức chế mạnh CYP2C19. Cần theo dõi cẩn thận những bệnh nhân điều trị đồng thời với các thuốc có khoảng trị liệu hẹp được chuyển hóa qua hệ enzym này. Theo dõi sát khi sử dụng đồng thời terfenadine với mức liều thấp hơn 400 mg/ngày.
Tá dược: Thuốc có chứa tá dược lactose monohydrate, do đó không nên dùng cho những bệnh nhân mắc các vấn đề về di truyền hiếm gặp liên quan đến không dung nạp galactose, tình trạng thiếu hụt enzym lactase toàn phần hoặc hội chứng kém hấp thu glucose - galactose.
Khả năng lái xe và vận hành máy móc: Chưa có nghiên cứu cụ thể. Tuy nhiên, người bệnh cần được cảnh báo về khả năng thuốc có thể gây hoa mắt hoặc co giật trong quá trình sử dụng, tuyệt đối không tiến hành lái xe hoặc vận hành máy móc nếu xuất hiện bất kỳ triệu chứng nào nêu trên.
7.2 Lưu ý sử dụng trên phụ nữ mang thai và cho con bú
Phụ nữ mang thai: Nghiên cứu quan sát chỉ ra việc điều trị bằng thuốc trong ba tháng đầu làm gia tăng nguy cơ sảy thai tự nhiên. Đã có các báo cáo về nhiều dị tật bẩm sinh bất thường (bao gồm tật đầu ngắn, loạn sản tai, thóp trước khổng lồ, xương đùi cúi đầu và khớp thần kinh không tín hiệu) ở trẻ sơ sinh có mẹ điều trị liều cao (400 - 800 mg/ngày) kéo dài từ ba tháng trở lên để chữa bệnh nhiễm trùng coccidioidomycosis (mối quan hệ nhân quả chưa rõ ràng). Nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính sinh sản. Do đó không nên sử dụng thuốc ở liều tiêu chuẩn và thời gian ngắn hạn trong thai kỳ trừ khi rõ ràng cần thiết. Đối với liều cao và/hoặc chế độ kéo dài, tuyệt đối không sử dụng trừ tình huống nhiễm trùng đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
Bà mẹ cho con bú: Hoạt chất tiết vào sữa mẹ và đạt được nồng độ tương đương với nồng độ trong huyết tương của người mẹ. Việc duy trì cho con bú có thể được chấp thuận sau khi sử dụng một liều đơn duy nhất 150 mg. Tuy nhiên, việc cho con bú không được khuyến cáo sau khi người mẹ sử dụng thuốc nhiều lần hoặc sau khi dùng liều cao. Cần cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích về sức khỏe, sự phát triển của trẻ với nhu cầu lâm sàng của người mẹ và các tác dụng phụ tiềm ẩn.
Khả năng sinh sản: Thuốc chứng minh không gây ảnh hưởng bất lợi đến khả năng sinh sản của chuột đực hoặc chuột cái.
7.3 Xử trí khi quá liều
Đã có các báo cáo lâm sàng về tình trạng quá liều do thuốc, đi kèm các biểu hiện ảo giác và hành vi hoang tưởng xuất hiện đồng thời. Khi xảy ra quá liều, việc tiến hành điều trị triệu chứng thông qua các biện pháp hỗ trợ nâng đỡ cơ thể và thực hiện rửa dạ dày khi cần thiết có thể mang lại hiệu quả đầy đủ. Do hoạt chất được bài tiết phần lớn thông qua đường nước tiểu, biện pháp cưỡng bức lợi tiểu có thể làm tăng tỷ lệ loại bỏ thuốc. Thực hiện một buổi chạy thận nhân tạo kéo dài trong vòng ba giờ có khả năng giúp làm giảm nồng độ thuốc trong huyết tương khoảng 50%.
7.4 Bảo quản
Thuốc cần được bảo quản ở điều kiện nhiệt độ dưới 30°C.
8 Sản phẩm thay thế
Nếu sản phẩm Azzol-S hết hàng, quý khách hàng vui lòng tham khảo các sản phẩm thay thế sau:
Rosemazol 150mg của Công ty cổ phần dược phẩm Trung ương 3 chứa thành phần Fluconazole được chỉ định để điều trị các trường hợp nhiễm nấm Candida xâm lấn, viêm màng não do chủng nấm Cryptococcus, nấm niêm mạc miệng hầu thực quản…
Zolmed 150 do Công ty TNHH Dược phẩm Glomed sản xuất, chứa Fluconazole được sử dụng trong các trường hợp bệnh nhân bị nhiễm nấm da diện rộng như nấm chân, nấm thân, nấm bẹn, lang ben, các thể nhiễm nấm móng mạn tính…
9 Cơ chế tác dụng
9.1 Dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc kháng nấm cho sử dụng toàn thân, dẫn chất triazole. Mã ATC: J02AC01.
Fluconazole kháng nấm nhờ ức chế khử methyl trên 14 alpha-lanosterol qua trung gian cytochrom P-450 của nấm, làm mất ergosterol trong màng tế bào nấm. Thuốc chọn lọc trên enzym của nấm hơn động vật có vú. Liều 50 mg/ngày lên đến 28 ngày không ảnh hưởng Testosterone nam hay steroid nữ. Liều 200 - 400 mg/ngày không ảnh hưởng steroid nội sinh hoặc đáp ứng kích thích bởi ACTH ở nam giới.
In vitro, thuốc nhạy cảm với hầu hết các loài Candida lâm sàng (C. albicans, C. parapsilosis, C. tropicalis); C. glabrata nhạy cảm khoảng rộng; C. krusei đề kháng thuốc. Thuốc có hoạt tính in vitro với Cryptococcus neoformans, Cryptococcus gattii và các nấm mốc dịch tễ địa phương (Blastomyces dermatiditis, Coccidioides immitis, Histoplasma capsulatum, Paracoccidioides brasiliensis). Nghiên cứu động vật cho thấy mối tương quan giữa giá trị MIC và hiệu quả chống Candida. Nghiên cứu lâm sàng cho thấy mối quan hệ tuyến tính gần như 1:1 giữa AUC và liều dùng. Chữa bệnh ít khả năng thành công nếu nhiễm chủng có MIC cao. Candida spp. có thể phát triển cơ chế đề kháng gây tăng MIC. Ghi nhận tình trạng bội nhiễm với các loài Candida khác không nhạy cảm (như Candida krusei) cần liệu pháp thay thế.
Breakpoint theo EUCAST-AFST xác định cho các loài Candida cụ thể dựa trên dữ liệu PK/PD độc lập với phân bố MIC:
Candida albicans: Nhạy cảm (S) <= 2 / Kháng (R) > 4
Candida glabrata: IE (Không đủ bằng chứng cho thấy loài là mục tiêu tốt)
Candida krusei: -- (Thử nghiệm độ nhạy cảm không khuyến cáo vì là mục tiêu kém)
Candida parapsilosis: Nhạy cảm (S) <= 2 / Kháng (R) > 4
Candida tropicalis: Nhạy cảm (S) <= 2 / Kháng (R) > 4
Breakpoints không liên quan đến loài: Nhạy cảm (S) <= 2 / Kháng (R) > 4 (chỉ dùng cho sinh vật không có breakpoint cụ thể).
9.2 Dược động học
Các đặc tính dược động học của hoạt chất có tính tương đồng và giống nhau sau khi sử dụng bằng đường tĩnh mạch hay đường uống.
9.2.1 Hấp thu
Sau khi sử dụng theo đường uống, hoạt chất được hấp thu một cách nhanh chóng và tối ưu tại Đường tiêu hóa. Mức nồng độ thuốc ghi nhận được trong huyết tương (cùng với giá trị Sinh khả dụng toàn thân) đạt tỷ lệ trên 90% so với nồng độ đạt được sau khi áp dụng đường tiêm truyền tĩnh mạch. Tiến trình hấp thu qua đường uống hoàn toàn không chịu tác động hay bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng thuốc đồng thời cùng với thức ăn. Nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương ở trạng thái đói đạt được trong khoảng thời gian từ 0,5 đến 1,5 giờ sau khi uống. Mức nồng độ trong huyết tương biểu hiện tính chất tỷ lệ thuận với mức liều lượng đã sử dụng. Khi áp dụng phác đồ đa liều với tần suất dùng 1 lần/ngày, nồng độ thuốc sẽ đạt 90% trạng thái hằng định vào khoảng ngày thứ 4 đến ngày thứ 5. Việc sử dụng liều tấn công vào ngày đầu tiên với mức liều gấp đôi liều hàng ngày thông thường sẽ giúp nồng độ thuốc trong huyết tương nhanh chóng đạt xấp xỉ 90% trạng thái hằng định ngay vào ngày thứ 2.
9.2.2 Phân bố
Giá trị Thể tích phân bố khả kiến của hoạt chất sở hữu mức tương đương xấp xỉ với tổng lượng nước có trong cơ thể con người. Khả năng liên kết và gắn kết của thuốc đối với các protein có trong huyết tương ghi nhận ở mức thấp, chỉ dao động trong khoảng từ 11% đến 12%. Hoạt chất chứng minh năng lực thấm nhập rất tốt vào bên trong tất cả các loại dịch sinh học của cơ thể. Mức nồng độ thuốc đo được trong nước bọt cũng như trong đờm đạt giá trị tương đương với nồng độ thuốc hiện diện trong huyết tương. Đối với những đối tượng người bệnh đang bị tình trạng viêm màng não do nấm, nồng độ của hoạt chất ghi nhận được bên trong dịch dịch não tủy có thể đạt tới giá trị xấp xỉ bằng 80% so với nồng độ thuốc tương ứng đo được trong huyết thanh. Nồng độ thuốc biểu hiện mức độ tích lũy cao tại da, vượt trội hơn nồng độ của chính nó trong huyết serum, đạt hàm lượng lớn tại cấu trúc lớp sừng, lớp biểu bì - hạ bì cũng như trong mồ hôi ngoại tiết. Thuốc có đặc tính tích tụ lâu dài trong lớp sừng của da: khi dùng liều duy trì 50 mg x 1 lần/ngày, nồng độ thuốc sau 12 ngày là 73 mcg/g và sau khi dừng điều trị 7 ngày thì nồng độ vẫn còn lưu lại ở mức 5,8 mcg/g; khi áp dụng mức liều 150 mg x 1 lần/tuần, nồng độ thuốc đo được tại lớp sừng ở ngày thứ 7 là 23,4 mcg/g và sau khi sử dụng liều thứ hai được 7 ngày thì nồng độ lưu lại trong lớp sừng vẫn còn đạt 7,1 mcg/g. Tại móng, nồng độ thuốc sau thời gian 4 tháng sử dụng với phác đồ liều 150 mg x 1 lần/tuần đạt mức 4,05 mcg/g đối với cấu trúc móng khỏe mạnh và đạt 1,8 mcg/g tại các vị trí móng bị bệnh; hoạt chất vẫn có khả năng được tìm thấy và phát hiện bên trong các mẫu thử của móng ở thời điểm 6 tháng sau khi người bệnh đã hoàn tất và kết thúc toàn bộ tiến trình điều trị.
9.2.3 Chuyển hóa
Hoạt chất chỉ trải qua tiến trình chuyển hóa sinh học tại gan ở một mức độ rất nhẹ và hạn chế. Sau khi tiến hành thử nghiệm sử dụng với một liều lượng có đánh dấu phóng xạ, kết quả cho thấy chỉ có tỷ lệ khoảng 11% tổng lượng thuốc được bài tiết xuất hiện dưới dạng các chất đã bị thay đổi cấu trúc thông qua đường nước tiểu. Hoạt chất đóng vai trò là một chất có khả năng gây ức chế ở mức độ vừa phải đối với các isoenzym CYP2C9 và isoenzym CYP3A4 thuộc hệ thống enzym chuyển hóa cytochrome P450, đồng thời thuốc cũng thể hiện hoạt tính gây ức chế một cách mạnh mẽ đối với các isoenzym CYP2C19.
9.2.4 Thải trừ
Giá trị thời gian bán thải của hoạt chất bên trong huyết tương kéo dài xấp xỉ trong khoảng 30 giờ. Con đường đào thải và loại bỏ chủ yếu của thuốc ra khỏi cơ thể là thông qua hệ thống thận, với tỷ lệ xấp xỉ 80% tổng mức liều lượng đã sử dụng được tìm thấy xuất hiện dưới dạng hoạt chất nguyên vẹn không bị biến đổi cấu trúc bên trong nước tiểu. Chỉ số độ thanh thải của thuốc biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận một cách trực tiếp đối với chỉ số độ thanh thải chất creatinine của cơ thể. Cho đến nay, các nghiên cứu lâm sàng hoàn toàn không ghi nhận bất kỳ bằng chứng nào chứng minh cho sự hiện diện của các chất chuyển hóa của nó bên trong hệ thống tuần hoàn chung. Đặc tính thời gian bán thải kéo dài lâu bên trong huyết tương này chính là cơ sở khoa học cốt lõi cho việc thiết lập phác đồ áp dụng điều trị bằng một liều đơn duy nhất đối với chỉ định nhiễm nấm Candida âm đạo, cũng như việc áp dụng tần suất dùng thuốc 1 lần/ngày hoặc dùng 1 lần/tuần đối với các chỉ định bệnh lý nhiễm nấm khác.
Dược động học ở người suy thận: Đối với các đối tượng người bệnh bị tình trạng suy giảm chức năng thận mức độ nghiêm trọng (giá trị mức độ lọc cầu thận GFR < 20 mL/phút), giá trị thời gian bán thải của thuốc tăng lên đáng kể, dao động trong khoảng từ 30 giờ đến 98 giờ; do đó việc thực hiện giảm liều dùng cho bệnh nhân là bắt buộc. Thuốc có khả năng được loại bỏ ra khỏi cơ thể bằng biện pháp thẩm phân máu và đạt tỷ lệ loại bỏ thấp hơn khi áp dụng biện pháp thẩm tách phúc mạc. Sau khi hoàn tất một buổi chạy thận nhân tạo kéo dài trong thời gian ba giờ, có khoảng 50% tổng lượng thuốc sẽ được thải trừ thành công ra khỏi máu.
Dược động học trong thời kỳ cho con bú: Nghiên cứu trên 10 phụ nữ cho con bú dùng một liều đơn duy nhất 150 mg cho thấy thuốc tiết vào sữa mẹ đạt nồng độ trung bình khoảng 98% nồng độ huyết tương mẹ. Giá trị nồng độ đỉnh trung bình trong sữa mẹ đạt mức 2,61 mg/L ở thời điểm 5,2 giờ sau khi dùng. Liều ước tính hàng ngày trẻ sơ sinh nhận từ sữa mẹ (giả định tiêu thụ 150 mL/kg/ngày) là 0,39 mg/kg/ngày, chiếm khoảng 40% liều khuyến cáo cho trẻ sơ sinh dưới 2 tuần tuổi hoặc chiếm 13% liều khuyến cáo cho trẻ nhỏ đối với bệnh Candida niêm mạc.
Dược động học ở trẻ em: Dữ liệu đánh giá từ 113 bệnh nhi chỉ ra sau khi dùng mức liều từ 2 đến 8 mg/kg cho trẻ từ 9 tháng đến 15 tuổi, giá trị AUC đạt khoảng 38 mcg.h/mL trên mỗi đơn vị liều 1 mg/kg. Thời gian bán thải trung bình huyết tương dao động từ 15 đến 18 giờ và thể tích phân bố khoảng 880 mL/kg sau khi áp dụng đa liều (thời gian bán thải sau liều đơn cao hơn, khoảng 24 giờ). Ở trẻ từ 11 ngày đến 11 tháng tuổi dùng liều đơn 3 mg/kg tiêm tĩnh mạch, thời gian bán thải cũng có tính tương đồng và thể tích phân bố đạt khoảng 950 mL/kg. Kinh nghiệm ở trẻ sơ sinh thiếu tháng còn giới hạn, ghi nhận ở trẻ thai mọc trung bình 28 tuần dùng liều 6 mg/kg truyền tĩnh mạch mỗi 72 giờ: thời gian bán thải trung bình là 74 giờ ở ngày 1, giảm xuống 53 giờ ở ngày 7 và còn 47 giờ ở ngày 13; giá trị AUC tăng từ 271 mcg.h/mL (ngày 1) lên 490 mcg.h/mL (ngày 7) rồi giảm về 360 mcg.h/mL (ngày 13); thể tích phân bố tăng từ 1183 mL/kg (ngày 1) lên 1184 mL/kg (ngày 7) và đạt 1328 mL/kg ở ngày 13.
Dược động học ở người cao tuổi: Nghiên cứu trên 22 đối tượng từ 65 tuổi trở lên uống liều đơn 50 mg ghi nhận giá trị Cmax là 1,54 mcg/mL sau 1,3 giờ, AUC trung bình là 76,4 ± 20,3 mcg.h/mL và thời gian bán thải cuối cùng trung bình kéo dài đến 46,2 giờ (các thông số này đều cao hơn so với tình nguyện viên trẻ tuổi). Việc dùng chung thuốc lợi tiểu không làm biến đổi đáng kể AUC hay Cmax. Các chỉ số độ thanh thải creatinine (74 mL/phút), tỷ lệ thuốc chưa chuyển hóa trong nước tiểu 24 giờ (22%) và độ thanh thải qua thận (0,124 mL/phút/kg) ở người già đều thấp hơn người trẻ, cho thấy sự thay đổi dược động học ở nhóm tuổi này liên quan trực tiếp đến đặc tính suy giảm chức năng thận theo tuổi tác.
10 Thuốc Azzol-S giá bao nhiêu?
Thuốc Azzol-S hiện đang được bán tại nhà thuốc online Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy; giá sản phẩm có thể đã được cập nhật ở đầu trang hoặc để biết chi tiết về giá sản phẩm cùng các chương trình ưu đãi, người dùng có thể liên hệ với dược sĩ đại học của nhà thuốc qua số hotline, nhắn tin trên Zalo, Facebook.
11 Thuốc Azzol-S mua ở đâu?
Bạn có thể mang đơn bác sĩ kê Azzol-S để mua trực tiếp tại nhà thuốc Trung Tâm Thuốc Central Pharmacy (địa chỉ: 85 Vũ Trọng Phụng, Thanh Xuân, Hà Nội) hoặc liên hệ qua hotline/nhắn tin trên website để được tư vấn sử dụng thuốc đúng cách.
12 Ưu điểm
- Thuốc sở hữu sinh khả dụng đường uống rất cao, đạt trên 90% so với đường tiêm tĩnh mạch, giúp việc hấp thu hoạt chất diễn ra tối ưu mà hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi thức ăn.
- Phổ kháng nấm rộng và nồng độ thuốc phân bố, tích lũy vô cùng tốt tại các mô, dịch cơ thể, đặc biệt lưu lại rất lâu trong cấu trúc lớp sừng của da và móng giúp nâng cao hiệu quả điều trị tận gốc các thể nhiễm nấm mạn tính.
- Thời gian bán thải của hoạt chất kéo dài dài ngày trong huyết tương (xấp xỉ 30 giờ), tạo điều kiện thuận lợi để thiết lập phác đồ đa liều tiện dụng chỉ 1 lần/ngày hoặc thậm chí chỉ cần dùng 1 liều đơn duy nhất đối với bệnh lý nhiễm Candida âm đạo cấp tính.
13 Nhược điểm
- Thuốc có nguy cơ gây ra các phản ứng tương tác thuốc phức tạp và nguy hiểm với nhiều nhóm dược chất khác nhau do đặc tính ức chế mạnh isoenzym CYP2C19 và ức chế trung bình CYP2C9, CYP3A4.
- Mặc dù hiếm gặp nhưng thuốc vẫn tiềm ẩn nguy cơ gây ra các phản ứng độc tính nghiêm trọng đe dọa tính mạng trên hệ gan mật, kéo dài khoảng QT gây xoắn đỉnh trên tim mạch, hoặc các hội chứng hoại tử da tróc vảy dữ dội.
Tổng 22 hình ảnh























