0 GIỎ
HÀNG
Giỏ hàng đã đặt
Không có sản phẩm nào trong giỏ hàng!
Tổng tiền: 0 ₫ Xem giỏ hàng

NGUYÊN NHÂN, TRIỆU CHỨNG, ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYP 2

Lượt xem: 1650Ngày đăng:
https://trungtamthuoc.com/bai-viet/dai-thao-duong-typ-2-82 22/07/2020 8:39:02 SA
TrungTamThuoc

Người bệnh đái tháo đường typ 2 có thể có các triệu chứng như đi tiểu nhiều hơn bình thường, đặc biệt vào ban đêm, khát nhiều, sụt cân, đói nhiều. Bệnh tiểu đường typ 2 được kiểm soát kém có thể gây ra một loạt các biến chứng vi mạch, vĩ mô và bệnh lý thần kinh. Vậy điêu trị bệnh đái tháo đường typ 2 như thế nào?

1 Đái tháo đường typ 2 là gì?

Bệnh đái tháo đường typ 2 bao gồm một loạt các rối loạn chức năng đặc trưng bởi sự tăng đường huyết và kết quả của việc kháng với tác dụng của insulin, bài tiết insulin không đủ và bài tiết glucagon quá mức hoặc không phù hợp. Bệnh tiểu đường typ 2 được kiểm soát kém có thể gây ra một loạt các biến chứng vi mạch, vĩ mô và bệnh lý thần kinh.

Đái tháo đường typ 2 là gì?

Đái tháo đường typ 2 là gì?

2 Nguyên nhân, triệu chứng của đái tháo đường typs 2

2.1 Các nguyên nhân gây tiểu đường typ 2

Nguyên nhân của đái tháo đường týp 2 có thể là sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố môi trường và di truyền. Có lẽ, bệnh phát triển khi người bệnh ăn quá nhiều calo, trong khi lượng calo được tiêu hao đi quá ít.

Ở những người bệnh béo phì chỉ số khối cơ thể (BMI) quá cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường. Khoảng 90% bệnh nhân bị đái tháo đường týp 2 bị béo phì. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế độ ăn nhiều năng lượng có thể là yếu tố nguy cơ cho sự phát triển của bệnh tiểu đường không phụ thuộc vào bệnh béo phì.

Nguy cơ mắc bệnh tiểu đường typ 2 cũng thay đổi theo các nhóm chủng tộc khác nhau. Những người có nguồn gốc châu Á có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường ở mức độ thừa cân thấp hơn so với người gốc châu Âu. Bệnh tiểu đường ở người da trắng có liên quan đến tăng huyết áp và tiền tăng huyết áp cao hơn người Mỹ gốc Phi.

Bệnh tiểu đường thứ phát có thể xảy ra ở những bệnh nhân sử dụng glucocorticoids hoặc khi bệnh nhân có tình trạng đối kháng với các hoạt động của insulin như: hội chứng Cushing, u tủy thượng thận...

Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy các chất ô nhiễm môi trường có thể đóng một vai trò trong sự tiến triển của đái tháo đường typ 2.

Các yếu tố nguy cơ chính của đái tháo đường typ 2 là:

  • Tuổi lớn hơn 45 tuổi, trọng lượng lớn hơn 120% trọng lượng cơ thể lý tưởng.
  • Tiền sử gia đình có cha mẹ, anh chị em mắc bệnh tiểu đường typ 2.
  • Người có tiền sử dung nạp glucose bị suy yếu (IGT) trước đó hoặc glucose lúc đói bị suy yếu (IFG).
  • Người bệnh tăng huyết áp (trên 140/90 mmHg) hoặc rối loạn lipid máu (mức cholesterol HDL dưới 40 mg/dL hoặc mức triglyceride trên 150 mg/dL).
  • Bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường thai kỳ hoặc sinh con với cân nặng khi sinh trên 4,08 kg.
  • Những người mắc hội chứng buồng trứng đa nang có nguy cơ dẫn đến kháng insulin.

2.2 ​Người bệnh đái tháo đường typ 2 có triệu chứng gì?

Đái tháo đường typ 2 gây nhiều biến chứng.

Đái tháo đường typ 2 gây nhiều biến chứng.

Người bệnh tiểu đường typ 2 có thể có các triệu chứng như đi tiểu nhiều hơn bình thường, đặc biệt vào ban đêm.

Đồng thời ở người bệnh lúc nào cũng thấy khát, cảm thấy mệt mỏi, sụt cân mà không phải do áp dụng phương pháp giảm cân.

Những bệnh nhân tiểu đường typ 2 sức đề kháng giảm sút dễ mắc bệnh nhiễm trùng nên có thể ngứa bộ phân sinh dục, tưa miệng, và lâu lành vêt thương.

Ngoài ra, ở những bệnh nhân sau một thời gian bị đái tháo đường có thể bị suy giảm thị lực, tầm nhìn giảm, mắt mờ.

3 Chẩn đoán bệnh nhân đái tháo đường typ 2

Theo American Diabetes Association (ADA) tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh tiểu đường là một trong những điều sau đây:

  • Mức HbA1c của người bệnh từ 6,5% trở lên.

  • Mức glucose huyết tương lúc đói (FPG) là 126 mg/dL tương đương 7,0 mmol/L hoặc cao hơn.

  • Nồng độ glucose huyết tương trong 2 giờ là 200 mg/dL tương đương 11,1 mmol/L) hoặc cao hơn trong nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75 g (OGTT).

  • Glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ là 200 mg/dL tương đương 11,1 mmol/L hoặc cao hơn ở bệnh nhân có triệu chứng tăng đường huyết như đa niệu, đa nang, đa âm, giảm cân....

4 Đái tháo đường typ 2 điều trị như thế nào?

Dưới đây Trung Tâm Thuốc xin giới thiệu với các bạn hướng dẫn điều trị đái tháo đường typ cho người trên 18 tuổi và không có bệnh cấp tính như: nhồi máu cơ tim, bệnh lý nhiễm trùng cấp tính, bệnh cần phẫu thuật, ung thư...

4.1 Nguyên tắc điều trị đái tháo đường typ 2

Trong điều trị đái tháo đường typ 2 điều quan trong là duy trì HbA1c, đường máu khi đói và sau ăn ở mức độ gần như mức độ sinh lý. Từ đó, sẽ làm giảm các nguy cơ xảy ra biến chứng, tử vong do đái tháo đường.

Đồng thời, nếu người bệnh thừa cân thì cần phải giảm cân và duy trì mức cân nặng phù hợp với chiều cao.

Điều trị đái tháo đường typ 2 ngoài dùng thuốc ta phải kết hợp luyện tập và chế độ ăn hợp lý.

Song song với điều trị hạ đường máu, việc điều trị các rối loạn lipid máu, huyết áp, phòng chống các rối loạn đông máu cũng rất quan trọng.

Trường hợp cần thiết như nhiễm trùng cấp, nhồi máu cơ tim, phẫu thuật... cần dùng insulin.

4.2 Lựa chọn thuốc và phương pháp điều trị đái tháo đường typ2

Điều trị đái tháo đường typ 2 như thế nào?

Điều trị đái tháo đường typ 2 như thế nào?

Cần điều trị làm sao để nhanh chóng hạ đường huyết về mức quản lý tốt nhất, đưa HbA1c về mức 6,5 đên 7% trong vòng 3 tháng. Chúng ta phối hợp thuốc sớm mà không điều trị theo phương pháp bậc thang như sau:

  • Nếu HbA1c > 9,0% đồng thời lượng glucose huyết tương lúc đói > 13,0 mmol/l có thể cho bệnh nhân dùng phối hợp hai loại thuốc viên hạ glucose máu.
  • Nếu HbA1C > 9,0% và lượng glucose máu lúc đói > 15,0 mmol/l có thể xem xét dùng ngay insulin.

Theo dõi và đánh giá các chỉ số glucose máu, HbA1c từ 3 đến 6 tháng một lần.

Tìm hiểu các thuốc điều trị đái tiểu đường typ 2 tại đây.

Ban đầu, điều trị đơn trị liệu căn cứ vào chỉ số khối của cơ thể, nếu BMI < 23 thì cho bệnh nhân sử dụng các thuốc hạ đường huyết  sulfonylurea. Còn những người có chỉ số khối BMI cao hơn 23 thì cho dùng thuốc metformin. Nếu khi điều trị thuốc uống, kể cả đã phối hợp các thuốc mà không hiệu quả, hay người cơ địa mẫn cảm thành phần thuốc, mang thai sẽ dùng insulin. 

Ban đầu trị liệu với insulin thì giảm liều sulfonylurea 50% và chỉ uống vào buổi sáng, và tiêm insulin và buổi tối trước khi ngủ với liều 0,1 UI/kg loại NPH. Hoặc tiêm 2 mũi insulin hỗn hợp mỗi ngày theo tình trạng người bệnh. Có thể điều chỉnh liều insulin tùy theo đáp ứng, mức glucose máu của người bệnh cứ 2 lần mỗi tuần.

Trên đây là các thông tin cơ bản về đái tháo đường typ 2, hy vọng sẽ hữu ích cho bạn đọc.


* SĐT của bạn luôn được bảo mật
* Nhập nếu bạn muốn nhận thông báo phẩn hồi email
Gửi câu hỏi
Hủy
0/ 5 0
5
0%
4
0%
3
0%
2
0%
1
0%
Chia sẻ nhận xét về sản phẩm
Đánh giá và nhận xét
? / 5
Gửi đánh giá

vui lòng chờ tin đang tải lên

Vui lòng đợi xử lý......